Nam Trân

Nam Trân

Chủ Nhật, 2 tháng 9, 2012

Vu cáo chính trị – mập mờ học thuật

Vu cáo chính trị – mập mờ học thuật
Mai Quốc Liên

Từ một trình độ Hán học uyên thâm như thế, ông Nguyễn Huệ Chi (NHC) đi vào làm Thơ văn Lý – Trần. Nói cho đúng, đây là một tập hợp văn bản công phu với công sức của nhiều người, nhưng lại in chữ giản thể. Ở đây không thể nói nhiều chuyện chung quanh cuốn sách này (Chẳng hạn, bản thảo do công lao to lớn của các cụ lão nho: Nguyễn Đức Vân, Đào Phương Bình, có cả Nam Trân làm; công lao của “ông đồ Hỉ” (tên gọi thân mật GS Đỗ Văn Hỉ, một nhà Hán Nôm học cự phách) trong việc dịch tất cả những văn bản khó trong ấy, nhất là các văn bia cổ…, và đến chết “ông đồ Hỉ” vẫn uất hận khôn nguôi trong việc bị đè nén… Và thật sự thì cụ Nghè Đinh Văn Chấp, Đông Châu Nguyễn Hữu Tiến, Ngô Tất Tố… đã dịch phân nửa văn bản Lý – Trần rồi. Và chú thích, dịch… nhất là những vấn đề liên quan đến Phật học còn phải bàn. Nhưng đó không phải là chủ đích của bài báo này). Trong cuốn Thơ văn Lý – Trần này, lẽ ra ông NHC chỉ là người biên soạn, biên tập…, nhưng đến tập II, quyển thượng thì ông lên làm chủ biên… Và quyển hạ, tập II, đến nay sau 40 năm từ khi in tập I, vẫn chưa ra. Thật oái ăm! Giờ tôi chỉ xin nói những chuyện “hai năm rõ mười” thôi.
Năm 1969 ở Sài Gòn, Tu thư Đại học Vạn Hạnh in cuốn (Tuệ Trung Thượng sĩ) Ngữ lục do Trúc Thiên dịch. Khi biên soạn Thơ văn Lý – Trần, ông NHC ghi “trong khi dịch thơ văn Trần Tung (tức Tuệ Trung Thượng Sĩ), chúng tôi có tham khảo bản dịch của Trúc Thiên, do Tu thư Đại học Vạn Hạnh ấn hành, 1969” (Thơ văn Lý – Trần, t.II, quyển thượng, H., 1989, tr. 225).
Nhưng “tham khảo” như thế nào? Thôi không nói đến phần “tham khảo” văn xuôi, vì phải mất công đối chứng, chỉ nói về thơ thôi. Đối chiếu bản dịch thơ của ông NHC và của Trúc Thiên thì thấy: ngoài việc lấy lại vần, lấy chữ, lấy nguyên si một số câu; ông NHC “xuất nhập” một số ý, “biên tập” lại để thành bài của mình và rồi ký luôn tên mình, xóa mất tên Trúc Thiên vốn là người đầu tiên dịch bài thơ ấy.
Trường hợp các bài Thế thái hư huyễn – Họa huyện lệnh, Thị chúng, Tặng Thuần Nhất pháp sư, Thị đồ, Chí đạo vô nan… đều là như vậy.
Bài Thế thái hư huyễn, hai câu đầu ông NHC lấy nguyên si (chỉ khác Trúc Thiên dịch chữ phó là gởi, ông để nguyên là phó):
- Vân cẩu đổi thay lắm vẻ mà
Mơ màng gởi trọn giấcNamkha.
(Trúc Thiên dịch, Ngữ Lục, Sđd, tr.123).
- Vân cẩu đổi thay lắm vẻ mà
Mơ màng phó trọn giấcNamkha.
(NHC dịch, Thơ văn Lý -Trần, t.II, quyển thượng, tr.250)
Hai câu cuối:
- Thấy chăng đàn én lầu Vương Tạ
Nay hết vàng son lạc vạn nhà.
(Ngữ Lục, Sđd)
- Hãy xem đàn én lầu Vương Tạ
Nay xuống làm thân với mọi nhà.
(Thơ văn Lý – Trần, Sđd, tr.250)
Theo ý tôi, câu dịch Trúc Thiên sáng tạo hơn, hay hơn, nhất là chữ vàng son, chữ lạc thật đắt, khi nhớ câu thơ Đường về Vương, Tạ của Lưu Vũ Tích: Cựu thời Vương Tạ đường tiền yến,/ Phi nhập tầm thường bách tính gia. Dịch thơ không phải dịch chữ, mà dịch cái hồn chữ. Ông NHC dựa vào câu thơ dịch của Trúc Thiên, sửa vài chữ cho là sát nghĩa; còn 4 câu giữa thì cũng chỉ xoay đi đổi lại mà thôi.
Bài Họa huyện lệnh, bản dịch của Trúc Thiên mở đầu bằng hai câu:
Đã từng nối gót Tứ Minh Cuồng
Ưng mến Y Vương với Quỉ Vương.
thì bản NHC là như sau:
Từng phen nối gót Tứ Minh Cuồng
Nào phục Y Vương với Quỉ Vương.
Dựa vào vần cũ, bài cũ, “xuất nhập” một hai chữ rồi ký tên mình. Bài Tặng Thuần Nhất pháp sư, bản dịch của Trúc Thiên mở đầu: Pháp thân tịch diệt sắc thân còn; bài Thị chúng mở đầu: Thôi tìm núi Thiếu với khe Tào, bản NHC cũng hoàn toàn là như vậy (trong khi Thiền sư Thích Nhất Hạnh dịch vần khác: Thôi tìm Thiếu thất với Tào khê); bài Đại đạo chí nan, Trúc Thiên dịch: Quay đầu, vặn óc luống bần thần, thì ông NHC đảo lại chút đỉnh: “Bần thần, vặn óc với quay đầu”, tính ra chỉ khác mỗi chữ với và luống.
Thế nào là dịch lại, là tham khảo? Trong việc dịch thơ, tuy cùng nguyên tác, các bản dịch có thể khác nhau xa, tùy từng người dịch trong quá trình chuyển tải vần điệu, chất thơ, ý tại ngôn ngoại… Đằng này là lấy của người, biên tập, chữa một số chỗ chứ đâu phải dịch?
Trường hợp này cũng xảy ra giữa ông NHC và bản dịch Ngục trung nhật ký của Nam Trân (1907-1967). Nam Trân từng dạy ông NHC ở Lớp Đại học Hán học (1965-1969) về thơ Đường – Tống, vừa là người lãnh đạo ông (cụ Cao Xuân Huy, Tổ trưởng, ông Nam Trân, Nguyễn Văn Hoàn, Phó tổ trưởng, ông NHC tổ viên). Lại là bậc tiền bối (Nam Trân sinh 1907, NHC 1938). Nam Trân Nguyễn Học Sĩ đậu Tú tài bản xứ tiếng Pháp thời Tây; nghiên cứu văn học Tây phương (cổ Hy – La); Hán học thì dịch thơ Đường – Tống, Kinh Thi, cổ văn… chữ tốt đến nhân sĩ Trung Quốc cũng vui lòng xin chữ và in thơ chữ Hán của ông trên tờ Thi san của Hội Nhà văn Trung Quốc. Ông lại là tác giả Huế – Đẹp và Thơ mà Hoài Thanh nhận rằng thơ ông “biệt riêng thành một lối” (Thi nhân ViệtNam). Nam Trân mất (1967), hơn chục năm sau, ông NHC đem ra “duyệt” lại bản dịch của thầy và bậc tiền bối đó. Ngoài mấy bản dịch mới hoàn toàn, còn thì, ông đã sửa chữa: 8 bài sửa 1 từ, 4 bài sửa 2 từ, 1 bài sửa 3 từ, 3 bài sửa 4 từ, 1 bài sửa 3 từ, 1 bài sửa 4 từ, 1 bài sửa 5 từ, 15 bài sửa từ 6 từ trong 3 câu trở lên. Chỉ sửa chữ, không sửa vần! Sửa có 1 chữ cũng ký tên mình vào! Thí dụ thì vô khối. Bài Dạ túc Long Tuyền, 3 câu trên gần như lấy lại nguyên văn, đến câu 4, Nam Trân dịch:
Mừng sáng nghe oanh hót xóm gần
(Cách lân hân thính hiểu oanh đề: Mừng nghe chim oanh bên láng giềng báo sáng) (Nhật ký trong tù, 1960, tr.66).
Ông NHC bèn chữa lại:
Oanh sớm, mừng nghe hót xóm gần
rồi ký tên mình bên cạnh. Đúng là “lợn lành chữa thành lợn què”! Câu thơ dịch của Nam Trân đã là tối ưu so với câu thơ nguyên tác, xuôi thuận, đẹp về tiếng Việt. Còn oanh sớm là oanh gì? Có oanh chiều, oanh tối không? HIỂU là sáng sớm, ở đây nó là trạng ngữ của oanh, con chim oanh hót vào buổi sáng sớm, tức là nó báo sáng, chứ oanh sớm thì tiếng Việt chẳng ai nói thế, viết thế cả. Bài Chúc than (Hàng cháo), ông Nam Trân: quán rượu, ông NHC chữa tiệm rượu, ông Nam Trân: chỉ có cháo hoa…, ông NHC: nào món cháo hoa… thế là đứng tên! Bài thơ tả một quán nghèo trên đường, quán chỉ bán cháo hoa, muối trắng. Vậy cách dịch chỉ có thật đúng cái thần của câu thơ, còn nào món là có ý tán dương món ăn của quán ư!?
Tệ nhất là có bản chỉ chữa 1 chữ, các vị cũng đề tên mình vào bản dịch cũ. Mà chữa thế nào: Nam Trân: sách xưa – sách mới (cựu quyển, tân thư) nay sửa quyển xưa – sách mới (cho đúng nguyên văn, dịch theo chữ!), rồi hân hạnh đứng tên!
Hỡi ôi! Đúng là: “Thế sự người no ổi tiết bảy. Nhân tình ai ủ cúc mồng mười” (Nguyễn Trãi). Giá như ông Nam Trân còn sống chả biết ông nghĩ sao! Những học trò mà trước khi chết, ông than tiếc: “Đào lý phương viên thắng hủy đa. Tiểu tâm bồi ủng nhị niên qua. Như kim vô lực truyền xuân sắc. Trường hướng thu phong thán nhất ta” (Tạm dịch: Cỏ lạ đào thơm mơn mởn tươi. Đem lòng vun xới mấy năm trời. Đến nay không sức truyền xuân sắc. Nhìn gió thu sang, một thở dài).  Những học trò ấy đã vượt qua đầu ông, bất chấp tấm lòng và con chữ mà ông “bồi ủng”!
Kể ra hơi tàn nhẫn. Mà không chỉ có Nam Trân. Đến cụ Nguyễn Sĩ Lâm, Viện trưởng Viện Đông Y, một nhà Hán học cự phách, cẩn thận, chắc chắn, sâu rộng một tâm hồn thơ…, thầy chữ Hán chúng tôi ở lớp Hán – Nôm Sau Đại học (1972-1975) cũng bị NHC cướp chữ! Cả bài của cụ Nguyễn, 12 câu dịch, ông NHC thực ra chỉ chữa có 2 chữ: Vô ngần thành dữ dằn. Cụ Nguyễn dịch: “Giả bộ ác vô ngần” (Nguyên văn: Giả trang ác ngân ngân, nghĩa là: Lại giả bộ ác hầm hầm – Nhật ký trong tù, 1991, tr.26). Ông NHC chữa thành: Vờ làm bộ dữ dằn, chắc gì đã diễn đạt đúng nguyên tác: ngân ngân, ý hung ác, tàn nhẫn (Nhật ký trong tù, tr.27). Rõ ràng ác hầm hầm và dữ dằn mức độ khác nhau, chất lượng khác nhau. Nhưng thôi, chữa là chuyện của ông, nhưng ông lại ký tên mà là ký trước tên như là người dịch chính vào bài của cụ Nguyễn là cớ làm sao?
Nói cho đúng, NHC không chỉ chữa và ký tên chung. Ông cũng có dịch một số bài mới. Thà là như thế! Hay, dở cũng là bản dịch của mình. Văn chương “Tự kỷ văn chương, tha nhân thê thiếp” (Văn mình, vợ người). Nhân nói đến chuyện ứng xử với thầy cũ, tưởng cũng nên nhắc qua chuyện ông NHC và cụ Cao Xuân Huy. Ông lôi trong đống giấy tờ cũ ở nhà con rể cụ Cao Xuân Huy, soạn ra cuốn “Chủ toàn và chủ biệt – hai ngã rẽ của triết học Đông Tây”, đem in bên Tây, rồi đem về đổi tên thành “Tư tưởng phương Đông – gợi những điểm nhìn tham chiếu” (1995), rồi dựa vào uy tín cụ Cao Xuân Huy, cuốn sách đem về Giải Thưởng Hồ Chí Minh cho Cụ. Người ngoài không biết, tưởng thế là học trò “trả nghĩa” thầy. Thực ra, động cơ lại khác. NHC lợi dụng các bài mà Cụ Huy chủ yếu viết từ 1956-1957. Cụ Cao Xuân Huy là người thấm nhuần Lão – Trang, biết rằng “Danh khả danh phi thường danh” (Cái danh có thể gọi được là danh là cái danh không hằng thường – Lão Tử). Cụ đâu có cần “danh”, cần giải thưởng! Cái hay cái lớn là không màng giải, không màng danh, lấy điều không tham làm giải: “bất tham vi vinh”. Chứ đi nhận giải, nhận tiền, còn đâu Lão – Trang, còn đâu Cụ Huy! Sau khi sách ra, học giới tranh biện, phê phán làm phiền cho Cụ khôn xiết, trong đó có ý kiến các ông Trần Thanh Đạm, Đông La, Trần Văn Đoàn… mà NHC đuối lý, không bảo vệ được. Chẳng hạn, xem Đông La: Những điều cần bàn của một công trình triết học – Đọc “Tư tưởng phương Đông – gợi những điểm nhìn tham chiếu”, sách Biên độ của trí tưởng tượng. NXB Văn học, 2001, tr.191-205)…
Cũng tương tự, chuyện đối với thầy Thích Nhất Hạnh, không phải “thầy học”, mà là “thày chùa – thiền sư”. Năm 1974, trong “Việt Nam Phật giáo sử luận”, (T.I, NXB Lá Bối, Sài Gòn), Nguyễn Lang (tức thiền sư Thích Nhất Hạnh), trong chương 9: Tuệ Trung thượng sĩ (tr.269-298); dưới các mục: Diện Mục Tuệ Trung, Hoà Quang Đồng Trần, Đập Vỡ Thái Độ Bám Víu Vào Khái Niệm, Diệu Khúc Bản Lai Tu Cử Xướng, Đập Phá Quan Niệm Lưỡng Nguyên đã phát hiện ra Tuệ Trung mới chính là Trần Tung, con Trần Liễu, anh Trần Hưng Đạo (chứ không phải Trần Quốc Tảng, con Trần Hưng Đạo như Bùi Huy Bích viết trong Hoàng Việt thi tuyển). Thiền sư viết:
“Sách Hoàng Việt Văn Tuyển nói Tuệ Trung Thượng Sĩ là Hưng Ninh Vương Trần Quốc Tảng, con lớn của Trần Hưng Đạo. Sự thực thì tuy Tuệ Trung Thượng Sĩ có tước hiệu là Hưng Ninh Vương, nhưng ông không phải tên là Trần Quốc Tảng cũng không phải là con Trần Hưng Đạo. Ông là anh cả của Trần Hưng Đạo, và tên ông là Trần Quốc Tung. Trần Nhân Tông, người khảo đính sách Tuệ Trung Thượng Sĩ Ngữ Lục, trong bài Thượng Sĩ Hành Trạng in ở cuối sách có nói rõ “Tuệ Trung Thượng Sĩ là con đầu của Khâm Minh Từ Thiện Đại Vương và là anh của Hoàng Thái Hậu Nguyên Thánh Thiên Cảm. Khi Đại Vương mất, hoàng đế Trần Thái Tông cảm nghĩa phong cho Thượng Sĩ tước Hưng Ninh Vương”.
Khâm Minh Từ Thiện Đại Vương là tước hiệu vua Trần Thái Tông ban cho Yên Sinh Vương Trần Liễu khi ông này mất. Đó là vào năm 1251. Cũng vào năm ấy Tuệ Trung Thượng Sĩ được 21 tuổi, và được phong tước Hưng Ninh Vương. Hoàng Thái Hậu Nguyên Thánh Thiên Cảm là con thứ 5 của Yên Sinh Vương Trần Liễu, tên là Thiều, là vợ của vua Trần Thánh Tông. Trần Hưng Đạo có một người con tên là Trần Quốc Tảng, nhưng tước hiệu là Hưng Nhượng Vương chứ không phải là Hưng Ninh Vương”.
Trong phần chú thích, Nguyễn Lang Thích Nhất Hạnh ghi rõ: Con cả của An Sinh Vương tên là Tung. Sách Đại Việt Sử Ký Toàn Thư trong phần nói về vua Trần Minh Tông, có ghi lời bàn của Ngô Sĩ Liên như sau:
“Vua vốn là người hậu với thân thuộc trong họ, đối với người vai trên mà quý hiển lại càng tôn kính lắm. Phàm kẻ thần hạ người nào có tên trùng với những người ấy đều đổi cho tên khác. Người nào tên là Độ đổi thành tên Sư Mạnh vì tên Độ trùng với tên của Thượng Phụ (Trần Thủ Độ), tên là Tung thì đổi làm Thúc Cao, vì tên Tung trùng với tên của Ninh Hưng Vương con trưởng của An Sinh Vương”.
Có những bản in lầm An Sinh Vương thành An Ninh Vương. Ta chưa từng nghe có ai có tước hiệu An Ninh Vương bao giờ. Hưng Ninh Vương là con của An Sinh Vương Trần Liễu. Chữ sinh trong An Sinh Vương hẳn đã bị khắc lầm thành chữ Ninh chỉ vì trước đó đã có chữ ninh trong Hưng Ninh Vương (chú thích của Nguyễn Lang).
Như thế là đã rõ, là rất chi tiết và thuyết phục. Ông NHC trong Thơ văn Lý – Trần (t.I, H., 1977, tr.113-115) cũng “tìm hiểu đích xác Tuệ Trung Thượng Sĩ là ai” (tr.114), đã viết lại những phát hiện của thiền sư Thích Nhất Hạnh mà xem như đó là phát hiện của chính mình. Đến bài viết “Trần Tung, một gương mặt lạ trong làng thơ thiền thời Lý – Trần”, Tạp chí Văn học (số 4-1977), ông NHC mới viết ở phần chú thích: “Cũng xin nói thêm là trong quá trình biên soạn bộ sách Thơ văn Lý – Trần, chúng tôi đã phát hiện ra vấn đề này tương đối sớm, và đã có dịp trình bày sơ lược trong phần khảo luận đầu sách. Gần đây, có đồng chí mách cho biết: trong cuốn Việt Nam Phật giáo sử luận (Lá Bối; Sài Gòn; 1974), Nguyễn Lang cũng có ý kiến giống chúng tôi về tác giả đích thực của Thượng Sĩ Ngữ Lục. Tuy nhiên, tìm đọc kỹ những điều ông Nguyễn Lang đã viết, chúng tôi vẫn thấy cần có một bài báo nói kỹ hơn về những tìm tòi của mình để bạn đọc tham khảo. Vì không những tài liệu và lập luận của chúng tôi có khác, mà cách đánh giá của chúng tôi đối với thơ văn Trần Tung cũng không giống Nguyễn Lang. Vả chăng, cho đến nay, mặc dầu đã có ý kiến sơ bộ của ông Nguyễn Lang, dư luận chung vẫn coi Trần Quốc Tảng là tác giả của Thượng Sĩ Ngữ Lục”.
Thực là khó tin! Sau khi Nam Bắc đã thống nhất, mà một bộ sách nghiên cứu nổi tiếng của một nhân vật nổi tiếng uyên bác như vậy và viết bằng tiếng Việt chứ phải tiếng Tây, tiếng U gì đâu, lại không đến một viện nghiên cứu chuyên ngành, lại đang làm thơ văn Phật giáo! (Còn nhớ, hồi ấy cán bộ Viện trong đó có NHC nườm nượp vào Nam, làm gì một cuốn tài liệu quan thiết đến như vậy mà NHC lại không có, không biết, đến nỗi “gần đây, có đồng chí mách cho biết, trong cuốn Việt Nam Phật giáo sử luận (Lá Bối, Sài Gòn, 1974) Nguyễn Lang cũng có ý kiến giống chúng tôi về tác giả đích thực của Thượng Sĩ Ngữ Lục”. Tư liệu là không khí của nhà nghiên cứu, sao NHC phải đợi có người mách cho một chuyện tày đình như vậy! Dù sao, trong nghiên cứu, có một “luật tục”: ai phát hiện, phát minh ra cái gì, căn cứ vào năm họ đăng ký bằng tác phẩm được công bố. Thí dụ trong trường hợp này: phát hiện Tuệ Trung là Trần Tung đích xác thuộc về Nguyễn Lang (Thích Nhất Hạnh), công bố tại Sài Gòn từ năm 1974; trước NHC (1977) đến ba, bốn năm trời. Lý đơn giản là như vậy. Nhưng thôi, chắc chắn là thiền sư Thích Nhất Hạnh chẳng để ý tranh giành tác quyền gì về chuyện đó, còn chúng ta, thì ai tin NHC cứ tin, cũng không mất gì! Cũng không có gì quan trọng lắm đâu một việc “phát hiện” như thế. Trần Nhân Tông chẳng đã nói rõ ràng trong “Thượng Sĩ Hành Trạng”, Tuệ Trung là con đầu của Khâm Minh Từ Thiện Đại Vương là tước hiệu của vua Trần Thái Tông ban cho anh ruột là Yên Sinh Vương Trần Liễu khi ông này mất… Thế thì “phát hiện này là của Trần Nhân Tông (1258-1308) chứ! Đã vậy, cái cách NHC nói về Nguyễn Lang lại thiếu hẳn sự khiêm tốn của một người đi sau. Ông cho rằng “cách đánh giá của chúng tôi đối với thơ văn Trần Tung cũng không giống Nguyễn Lang” (Bđd, tr.116). Không giống như thế nào? Ông NHC bảo là “thơ thiền của Trần Tung sẽ chỉ có một ý nghĩa nhất định với chúng ta chừng nào nó vẫn còn là thơ, là thơ của thế tục, hoặc là thơ có dính dáng ít nhiều đến thế tục, chứ chưa hoàn toàn là Thiền” (tr.127)…
Ơ hay! Thơ Thiền là thơ Thiền, còn có dính đến thế tục hay không là chuyện khác. Thế thơ Thiền của Trung Hoa, Nhật Bản, ViệtNam(những bài thơ Thiền chân chính, thuần khiết nhất của Trần Thái Tông, Trần Nhân Tông chẳng hạn…) là không, còn ý nghĩa ư? Thực ra thì trong bài viết, để cố chứng minh mình độc lập có được phát hiện này, ông NHC đã tự bộc lộ nhiều cái chưa ngộ Thiền, chưa thông Phật học, chưa quán Tuệ Trung… Ông cho rằng: Tuệ Trung “tồn tại một nhà duy lý, ẩn náu bên trong một con người Thiền”, Tuệ Trung “yêu cầu một sự kiểm chứng bằng lý trí”… “một cái nhìn tương đối sáng và tỉnh, một ý thức thường trực làm “bản ngã”, một sự lựa chọn dứt khoát chỗ đứng ở cõi trần” (Bđd, Tạp chí Văn học, 1977), “Trần Tung bẻ gãy và lật ngược lại nhiều mệnh đề Phật giáo xưa nay vốn lưu truyền!”, “Chủ nghĩa tương đối”, “tâm lý hư vô”, “coi tất cả là phi lý, đánh đồng cái chân và cái giả” (Từ điển văn học, H., NXB Thế giới, 2004, tr.1812).
Những điều đánh giá này, có lẽ vào lúc NHC đang “xin vào Đảng” như ông Đông La nói, nên nó chứng tỏ một lập trường mác – xít giản đơn, thô thiển, áp đặt và đại ngôn! Thực ra thì Trần Tung là một nhà Thiền học (Thiền chứ không phải Phật giáo nói chung) muốn siêu việt lên trên tất cả những phạm trù nhị nguyên. Xem cách phân tích của Thiền sư Thích Nhất Hạnh, một Thiền sư, một học giả, rất dung dị mà hiểu sâu và đúng về Tuệ Trung. Đó là điều chẳng có gì đáng nghi ngờ nhưng đây không phải chỗ để chúng tôi đi sâu phân tích. Cần nói là sau này, ông NHC lại tất tả đi in lại bộ Việt Nam Phật giáo sử luận. Với con người như của NHC, đây là một động thái không đơn giản!
 Kết luận lại, tôi chỉ nói một điều giản dị thôi: ông NHC tự cho rằng việc ông tìm ra thơ văn của nhà sư uyên bác, đồng thời là võ tướng có nhiều công lao dẹp giặc này là một cống hiến vô cùng quý giá” (Thơ văn Lý – Trần, t.I, tr.113). Tôi hoàn toàn đồng ý, với một chú thích nhỏ: Từ năm 1969 ở Sài Gòn, Trúc Thiên tìm ra, đã dịch và công bố Tuệ Trung Thượng Sĩ Ngữ Lục (Đại học Vạn Hạnh xuất bản, in lại 1974), tức là phát hiện và dịch trước ông NHC khoảng mười năm, còn về văn bản chữ Hán của tác phẩm này thì ít ra từ đời Chính Hòa thứ 4 (1683) đến đời Thành Thái (1903), Phật giáo Việt Nam vẫn in lại. Cho nên cái “cống hiến vô cùng quí giá” đó mà ông NHC nhận về mình cũng rất nên phải xem lại.
Bây giờ nói đến chuyện luận án Tiến sĩ “Giai nhân kỳ ngộ diễn ca trong văn học Duy Tân yêu nước đầu thế kỷ XX” của Trần Hải Yến (Viện Văn học – 2002) và bài “Giai nhân kỳ ngộ diễn ca, một thể nghiệm mới của Phan Châu Trinh về truyện thơ lục bát” của ông NHC in trên tạp chí Thời đại mới (Tạp chí nghiên cứu và thảo luận – một tạp chí mạng ở Hoa Kỳ (số 9, 11/2006). Bà Trần Hải Yến, như trong Thư mục tham khảo của luận án cho thấy, biết 4 ngoại ngữ: Hoa, Nhật, Anh, Pháp. Đây là một luận án do PGS-TS Phạm Tú Châu hướng dẫn và đã bảo vệ thành công xuất sắc. Đọc luận án thì thấy không có cái gì dính líu đến Giai nhân mà không được đề cập thấu đáo, sâu sắc, uyên bác, kỹ lưỡng, kể cả vấn đề thể loại “Truyện thơ lục bát”. Thế thì bà Trần Hải Yến còn lép cái nỗi gì để ông NHC rút ruột cái luận án ấy mà viết bài báo trên, rồi sau khi bị phản ứng, phải gỡ xuống và từ đó đến nay không thấy công bố ở trong nước, ngoài nước. Bà Trần Hải Yến cũng như bất cứ một nghiên cứu sinh nào khác, phải đề ở đầu luận án câu này “Xin cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các nhận định và kết luận của luận án là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất cứ công trình nào khác” và ký tên. Ông NHC có dám viết câu này khi viết bài báo nói trên không? Thế là cái bài báo ấy nó là “của em” chứ không phải “của anh”, “của thầy”.
Chữ Hán có thành ngữ: “Đoạt thai, hoán cốt”, nói về việc “rút ruột” và ém nhẹm, phi tang. Vì thế có hai câu tóm tắt chương này:
Tiểu xảo, “đoạt thai” Trần Hải Yến
Đại ngôn, “hoán cốt” Thích Thiền Sư
*
**
Bây giờ, xin qua chuyện chữ Tây của ông NHC để “giải lao” – thư giãn. Tôi không phải là chuyên gia tiếng Pháp, chỉ là học trò tiếng Pháp và tự học nên lẽ ra không nên nói chuyện này nhưng vì ông NHC lâu lâu viết bài cũng lại chưng ra một ít chữ Pháp bằng cách trích dùng một vài từ điển loại phổ thông để tỏ ra mình là người cũng rành tiếng Pháp. Một bà bạn ở Viện Văn học khi xưa còn cho biết “ông NHC làm Dự án về văn học Phần Lan (“Đường vào văn hóa Phần Lan” – 1966) để tỏ ra mình biết tiếng Pháp”. Một ông cụ vốn trước kia là học trò Trường Bưởi, sinh viên Luật Hà Nội, lại đã làm Hiệu trưởng trường Trung học Pháp – Việt, cho biết trong khi chú thích sách, ông NHC phải đi hỏi từng chữ Pháp cơ bản để chú thích. Không biết thì hỏi, đó là điều tốt. Nhưng thực tình, trình độ tiếng Pháp của ông NHC còn khá yếu. Chẳng hạn như nappe, theo lời học giả kia thì ông NHC cho là cái tấm vải trải giường (drap). Nappe trong Nam vẫn dùng nap, và bà xã tôi luôn nói “tấm nap bàn”, tức cái tấm khăn trải bàn, nó đã trở thành từ Việt (gốc Pháp) mất rồi, mà ông không biết.
Trong tập sách biên soạn Truyện ngắn Nam Phong (NXB KHXH, H., 1989), trang 131, NHC chú “tàu xúp-lê” là “tiếng Pháp: Souffler: thổi còi”. Chú giải như vậy là sai. Siffler mới là thổi còi, còn Souffler chỉ có nghĩa là như gió thổi (le vent souffler), thổi tắt ngọn nến (souffler la bougie). Souffler còn nhiều nghĩa nữa. Vậy hai chữ khác nhau chỉ chữ i và o. Chúng tôi xin đưa hai lệ chứng về chữ xíp-lê như sau:
“Nghe xíp-lê một chút rồi ngó thấy xe lửa rần rần chạy tới. Bé Hậu mừng rỡ nên đứng vỗ tay la om sòm” (Đoạn tình – Hồ Biểu Chánh).
“Tàu xíp-lê, kéo neo, xịch xịch chạy. Hai giờ đêm đến bến Hà Thành. Đèn điện sáng trưng, cô thông nom cũng choáng mắt” (Con người Sở Khanh – Phạm Duy Tốn).
Tiếng Pháp như thế thì chẳng có gì đáng tự hào vì ta vốn là nước thuộc địa của Tây xưa, một nước dùng tiếng Pháp, nhiều người tiếng Pháp giỏi lắm.
Ông NHC hầu như không làm công trình riêng. Ông chuyên đi “chủ biên” lấy bài nhiều người khác in, viết Lời giới thiệu rồi đề mình chủ biên (Trường hợp cuốn sách “Hoàng Ngọc Phách – đường đời và đường văn” (chuyên khảo, sưu tầm, tuyển chọn, 1966) sao lại đề là tác phẩm chính, in riêng của mình? (xem “Nhà văn hiện đại”, H., 2007, tr.150). Cuốn này chủ yếu là tác phẩm của cụ Hoàng Ngọc Phách, vậy phải đề tác giả là Hoàng Ngọc Phách, NHC sưu tầm, tuyển chọn, giới thiệu… mới phải.
Kể ra cũng lợi. Ngay cả cuốn “Từ điển văn học” khởi đầu do GS Đỗ Đức Hiểu chủ biên; GS Đỗ mất, ông đem ra thêm bớt, in lại (dịp khác ta sẽ bàn, các ông Đặng Tiến, Nguyễn Hữu Sơn và nhiều người khác đã có bài nhận xét sơ bộ, nhưng chưa thấy ai nói rõ điều này: ông đem cả nhà ông vào Từ điển, bất chấp họ có là nhân vật văn học hay không (có thể họ là sử, giáo dục, đạo đức học…, chứ quá ít dính đến văn), và ông thích ai thì đưa vào, không thích thì gạt (Chẳng hạn, tại sao ông lại gạt GS Hoàng Trinh vốn là người lãnh đạo của Viện mà lại đưa nhiều người có ít công trình hơn GS Trinh – vì “tư thù, tư oán” gì chăng? Ưng Quả, Bửu Kế, Nguyễn Khoa Vy… ở Huế sao không được đưa vào từ điển. Tại sao từ điển lại dừng ở những năm 60 của thế kỷ trước và thiếu không biết bao nhiêu người? Ông đã bộc lộ chủ tâm là ông muốn đưa vào cả những nhân vật văn học không hề đáng đưa một tí nào, nhưng không lọt. Ông “dương” người này, “ức”  người kia. Làm từ điển phải có chuẩn, phải khoa học, vô tư, khách quan. Cuốn này còn cần phải thảo luận nhiều.
Lời Tạm Kết
Ông NHC đã dồn tôi vào thế phải lên tiếng, làm tôi mất rất nhiều thời gian và công sức. Nếu tôi phải “thất lễ” với ông, thì ông nên trách mình và nên thông cảm với người. Thật lòng tôi rất chán phải nói những chuyện u ám này. Đời thiếu gì trời xanh, hoa tươi, người tốt… mà phải chui vào cái cõi u minh và vạch cái tối tăm của người này, người kia, nói tắt là phải đi “dọn rác”. Không phải tôi muốn “hạ” ông NHC, để mình “cao” lên. Không, tôi vẫn chỉ là tôi thôi, “người là thế ấy, ta là thế thôi!” (Ngô khởi hiếu biện tai! Ngô bất đắc dĩ dã) (Mạnh Tử). Tôi cố ý tránh tranh biện với ông NHC từ mấy chục năm rồi. Một là, rất không rảnh. Hai là, nhớ lời dạy của cụ Hoài Thanh khi làm nhân viên của cụ ở Viện: “Việc lớn xem là nhỏ, việc nhỏ coi như không có”, và lời của anh Nguyễn Đình Thi, thủ trưởng một thời của tôi: “Đối xử tốt ngay cả với người xử xấu với mình”. Trong đời, phải “lòng chợt từ bi bất ngờ”, phải có “một tấm lòng” như lời ca Trịnh Công Sơn. Tôi nghe đầy tai về chuyện ông NHC, ông NHC xử với tôi ra sao, hẳn ông là người biết rõ nhất. Nhiều bạn bè Hà Nội nói lại với tôi và còn “phê” tôi: “Tại sao ông NHC nói xấu về ông như thế, còn ông lại đi nói tốt cho ông ấy?” Tôi chỉ cười: “NHC là người làm việc, làm được nhiều việc. Người như thế hiện không có nhiều. Còn chuyện cá nhân, thì bỏ qua đi, cho nó nhẹ người”. Tôi và nhiều bạn vẫn đánh giá tốt ông NHC ở những bài, những chỗ mà ông chính là ông, không cần “bành trướng” nâng lên “quân Tào có 30 vạn nói thặng lên thành 100 vạn”. Ông không cần phải lên gân ráng sức quá sức mình, nguy hiểm cho sức khỏe. Tôi làm theo phương châm của các vị thầy, nên thừa biết là ông đã làm gì sau lưng chúng tôi (kể cả quay ngoắt 1800 trong vụ ông Nguyễn Quảng Tuân để thực hiện một ý đồ), chúng tôi cũng chẳng lạ và cho qua, để lo việc khác, thú hơn.
Nhưng nay thì ông đã đi quá xa về chính trị và học thuật, và ông chủ động tấn công, nên tôi buộc lòng phải lên tiếng tự vệ. Xin tạm kết đôi điều:
 Về mặt chính trị: ông NHC muốn giương cờ làm “nhà dân chủ” ở Việt Nam, đó là sự chọn lựa của ông. Ông NHC cũng đã từng có kinh nghiệm về hoạt động này nhiều năm: kinh nghiệm Nội Bài, kinh nghiệm viết bài trên các mạng nước ngoài; gần đây lại đã dẫn đầu một đoàn quỳ lạy trước quan tài “nhà dân chủ” Hoàng Minh Chính, cũng như dẫn đầu đưa đơn về vụ Thơ Trần Dần… Đó là chuyện của ông. Nhưng, ông không nên vu cáo, chửi bới những người khác – khác chính kiến, khác cách làm, khác lộ trình… “Dân chủ” mà như thế sao được? Dân chủ trước hết là phải tôn trọng những người khác ý kiến với mình, chứ đâu lại thô bạo, thô lỗ như một kẻ vô học, vô đạo thế. Theo tôi, ông không phải là người dân chủ. Ông đã từng tham vọng học thuật một cách “bá đạo”, nay nhảy sang làm chính trị lúc cuối đời. Tôi mong ông hãy suy nghĩ lại cho kỹ, đừng quá nóng giận mà mất khôn. Làm chính trị chẳng dễ hơn làm nghiên cứu đâu, ông NHC ơi!. Còn về văn học thì chúng ta có lạ gì nhau. Dẫu sao xưa kia cũng từng là người cùng một tổ chuyên môn của một Viện, người cùng lớp Hán học, bây giờ tuy cư trú hai miền nhưng có lúc còn gặp mặt nhau, trong một Hội đồng chấm luận án tiến sĩ hay cuộc họp này họp kia, vậy vui vẻ là hơn anh NHC ạ. Đời ngắn lắm, anh đã “xưa nay hiếm” rồi đấy nhỉ, vậy thì “còn gặp nhau thì hãy cứ dzui” như một câu thơ dễ thương của bà Tôn Nữ Hỷ Khương mà anh chị em hay nhắc, việc gì mà thù hằn nhau, sân si nhau sâu sắc thế!. Đời rộng dài, biển học bao la, sức ta có hạn, lo tập trung mà làm việc, may ra còn được chút đỉnh ích lợi cho đời:
Ta chợt biết rằng vì sao ta sống-
Vì đất nước cần một trái tim
(Trịnh Công Sơn)
Miễn trái tim ấy là một trái tim nhân hậu, chứ không phải “nhất thế tử tâm hoài đại độc” như Nguyễn Du nói.
***
Có Nhà Nghiên cứu, nghe chuyện, có thơ rằng:
Đâu ngờ người ấy chẳng ra chi!
Vu cáo người ta phỏng ích gì?
“Dân chủ”, lập trường còn khuất tất,
Văn chương, chữ nghĩa đáng hoài nghi.
“Thiệp phiên” đâu phải là “qua bến”,
Síp – lê ắt hẳn phải dùng i.
Tây Tàu thôi thế nên siêng học,
Giáo sư đừng để bị khinh khi.

Tôi xin phụng họa, tấp tểnh “nối điêu” bài xướng như sau:

Hóng hớt, thâm thù có ích chi!
Nói năng hỗn ẩu có ra gì?
Dân chủ chớ nên dùng vu cáo,
Văn chương hẳn phải tránh hiềm nghi.
“Phên dậu” ngàn năm chưa hóa bến,
“Síp – lê” vạn thuở vẫn nguyên i.
Nhớ lời Phật dạy, sân si dứt,
“Bất kị bất cầu” , phúc có khi.

Trà hoa hạng – Phú Nhuận
Ngày Giỗ Tổ Hùng Vương 2008

Thứ Ba, 14 tháng 8, 2012

60 năm Ngày Bác Hồ viết bài cuối của tập thơ Nhật ký trong tù (10/9/1943 - 10/9/2003)

60 năm Ngày Bác Hồ viết bài cuối của tập thơ Nhật ký trong tù (10/9/1943 - 10/9/2003)
Ngày 11/9/2003. Cập nhật lúc 19h 44'
Trịnh Thúc Huỳnh
Quyền Giám đốc, Tổng Biên tập Nhà xuất bản Chính trị quốc gia
Thực hiện Chỉ thị số 23- CT/TW ngày 27/3/2003 của Ban Bí thư Về đẩy mạnh nghiên cứu, tuyên truyền, giáo dục tư tưởng Hồ Chí Minh trong giai đoạn mới, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia xuất bản cuốn sách quý Nhật ký trong tù của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ý nghĩa lịch sử của sự kiện này càng có giá trị hơn khi tác phẩm được xuất bản đúng dịp kỷ niệm 60 năm (10/9/1943 - 10/9/2003), Ngày Bác Hồ kính yêu viết bài cuối của tập thơ Nhật ký trong tù, một sự kiện lịch sử và văn học vô giá trong kho tàng lịch sử - văn học dân tộc Việt Nam.

Tháng 8/1942, với danh tính Hồ Chí Minh, Bác Hồ sang Trung Quốc để liên hệ với các lực lượng cách mạng của người Việt Nam ở Trung Quốc và với Đảng CS Trung Quốc. Vừa ra khỏi biên giới Việt - Trung, Người bị chính quyền địa phương Tưởng Giới Thạch bắt giam trái phép hơn một năm trời. Bị giải tới, giải lui khắp 13 huyện và khoảng 30 nhà lao của tỉnh Quảng Tây, phải đi bộ hàng nghìn cây số trong lúc bị xiềng trói, bị đày đọa, hành hạ, phải sống trong điều kiện “khác với loài người”, song với ý chí kiên cường, không chịu khuất phục trước mọi thủ đoạn thâm độc của kẻ thù, với hồn thơ của một nhân cách lớn, Bác Hồ đã viết tập nhật ký bằng thơ chữ Hán. Bốn chữ đầu tiên ở trang thứ nhất được viết to và tô đậm hơn: Ngục trung nhật ký đã trở thành tên gọi của tập thơ nhật ký gồm 133 bài.

Thoát cảnh tù đày trở về nước, Bác Hồ đã cùng Trung ương Đảng trực tiếp lãnh đạo thành công cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, lập nên Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa - Nhà nước dân chủ công nông đầu tiên ở Đông - Nam Á. Trong hoàn cảnh chính quyền cách mạng non trẻ phải đối mặt với muôn vàn khó khăn, thách thức, cùng với công việc bộn bề, tập thơ nhật ký do Người viết trong tù chưa có điều kiện công bố rộng rãi với bạn đọc.

Đến ngày 6/6/1946, báo Đồng Minh ở Hà Nội đăng bài của tác giả T.S giới thiệuQuyển Nhật ký thơ của Cụ Hồ, trong đó có đoạn viết: "Đó là một quyển sách đóng bằng giấy bản hạng tốt, vừa to bằng bàn tay... Trang bìa đầu vẽ hai bàn tay bị trói do chính tay Cụ vẽ lấy".

Tháng 9-1955, nhân kỷ niệm lần thứ 10 Quốc khánh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, một cuộc triển lãm về cải cách ruộng đất đã được tổ chức tại Hà Nội. Hơn ba mươi tư vạn người đã đến xem triển lãm và nhiều người trong số đó đã được tận mắt chứng kiến cuốn sổ tay Nhật ký trong tù của Chủ tịch Hồ Chí Minh ghi từ ngày 28/9/1942 đến 10/9/1943 khi Người từ Việt Bắc ra nước ngoài hoạt động và bị đế quốc giam giữ hơn một năm. Ghi nhận sự kiện này, sách Triển lãm Việt Nam những chặng đường lịch sử viết: "Một vinh dự cho nhũng người làm triển lãm này là Bác Hồ đã đến xem và Bác đã chọn cuộc triển lãm này để tặng bản gốc chữ Hán tập. Ngục trung nhật ký, một tác phẩm vô giá của kho tàng văn hóa dân tộc". Lần đầu tiên bản gốc bút tích Nhật ký trong tù của Chủ tịch Hồ Chí Minh được trưng bày, giới thiệu với đông đảo quần chúng nhân dân lao động. Tháng 11/1955 triển lãm kết thúc, toàn bộ các tài liệu, hiện vật trưng bày được chuyển giao về Bộ Văn hóa và Văn phòng Trung ương Đảng lưu giữ. Đầu năm 1960, Bảo tàng Cách mạng Việt Nam khánh thành, nhiều tài liệu quý của triển lãm trên được chuyển tới để bảo quản và trưng bày tại bảo tàng, trong đó có bản gốc bút tích Nhật ký trong tù.Từ đó đến nay, bản gốc tập thơ quý giá này được lưu giữ và bảo quản cẩn thận tại Bảo tàng Cách mạng Việt Nam.

Ở Trung Quốc, ngày 16/10/1956, nhà thơ Viên Ưng (Trung Quốc) viết bài: Bác Hồ, một nhà thơ lớn. Có thể coi đây là bài viết sớm nhất của bè bạn quốc tế về Nhật ký trong tù của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Tháng 3 năm 1959, Viện Văn học đặt ra nhiệm vụ phải khẩn trương dịch tập thơ Ngục trung nhật ký của Chủ tịch Hồ Chí Minh ra tiếng Việt. Một tiểu ban dịch thơ Nhật ký trong tù đã được thành lập do Viện Văn học chủ trì và trách nhiệm chính được giao cho nhà thơ Nam Trân. Tháng 5/1960, nhân kỷ niệm lần thứ 70 Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Nhà xuất bản Văn hóa (Viện Văn học) và Nhà xuất bản Phổ thông cùng phối hợp xuất bản Nhật ký trong tù với số lượng in lên tới gần bảy vạn bản. Ngay trong ngày đầu phát hành ở Hà Nội, hơn bốn vạn bản đã được bán hết. Tháng 6/1960, sách được in bổ sung để đáp ứng nhu cầu nghiên cứu của bạn đọc. Cũng năm đó, ở Trung Quốc, nguyên tác Nhật ký trong tù được in và phát hành. Tại Liên Xô, bản dịch tập thơ sang tiếng Nga cũng được hoàn thành và đến tay bạn đọc. Tiếp đó, Nhật ký trong tù được dịch và phát hành rộng ra ở Ba Lan, Mông Cổ, Hung-ga-ri, Tiệp Khắc, Pháp, Mỹ, Cu-ba, v.v... Đến nay, Nhật ký trong tù đã được in và phát hành không dưới 30 lần ở Việt Nam; được dịch và giới thiệu ở trên 30 nước trên khắp các châu lục và in bằng 18 thứ tiếng khác nhau. Một số bản dịch được in và phát hành trong cùng một quốc gia.

Bốn mươi ba năm qua đã có nhiều công trình nghiên cứu chuyên khảo có giá trị về Nhật ký trong tù như: Đọc Nhật ký trong tù (Nhà xuất bản Tác phẩm mới, 1977); Suy nghĩ mới về Nhật ký trong tù (Nhà xuất bản Giáo dục, 1993); Nhật ký trong tù và những lời bình (Nhà xuất bản Văn hóa - Thông tin, 2001); v.v... Cùng với các công trình này, còn có hàng trăm bài viết của các nhà nghiên cứu, phê bình trong các lĩnh vực văn học, lịch sử, ngôn ngữ... và nhiều bạn đọc yêu thơ Bác ở trong nước và ngoài nước. Các bài viết không chỉ bày tỏ tình cảm và những suy nghĩ của mình về tập nhật ký bằng thơ của Bác mà còn phát hiện, phân tích và khẳng định những giá trị trên mọi khía cạnh, xác định vị trí và vai trò của tập thơ trong tiến trình lịch sử đất nước và tiến trình lịch sử văn học của nước nhà. Có nhiều bài viết hướng tới mục tiêu tìm hiểu một cách có hệ thống, toàn diện về tư tưởng, tính triết lý, giá trị thẩm mỹ trong nội dung và nghệ thuật viết thơ chữ Hán của Bác, khai thác những đóng góp to lớn của Nhật ký trong tù trong đời sống tinh thần của nhân dân ta và của bạn bè quốc tế.

Trong lần xuất bản này, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia in lại toàn bộ bản gốc tập thơ viết tay Nhật ký trong tù của Chủ tịch Hồ Chí Minh và các trang viết bằng văn xuôi của Người; giới thiệu 60 bài viết của các nhà nghiên cứu trong nước và ngoài nước về Nhật ký trong tù đã được xuất bản trên báo, tạp chí, sách một cách có hệ thống theo trình tự được xuất bản trong gần 60 năm qua. Lần đầu Nhật ký trong tù đến tay bạn đọc với toàn bộ nội dung được in từ bản gốc bút tích của Chủ tịch Hồ Chí Minh, bảo đảm tính nguyên gốc, tính chính xác của tài liệu hiện vật, tạo điều kiện cho các nhà nghiên cứu và bạn đọc có thể tiếp cận văn bản một cách thuận lợi và tin cậy, phục vụ thiết thực cho quá trình tiếp nhận, nghiên cứu, tra cứu, giảng dạy và học tập tác phẩm Nhật ký trong tù.

Chúng tôi hy vọng tập thơ Nhật ký trong tù của Chủ tịch Hồ Chí Minh đến với bạn đọc lần này, đặc biệt là bản gốc bút tích tác phẩm của Người không chỉ là nguồn tài liệu quý để bạn đọc nghiên cứu và học tập, mà còn góp phần động viên, cổ vũ chúng ta trong quá trình nghiên cứu, học tập, quán triệt tư tưởng của Người, góp phần đẩy mạnh sự nghiệp CNH, HĐH đất nước, thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, hoàn thành mong ước của Người trước lúc đi xa.

Thứ Ba, 8 tháng 5, 2012

PHÁT HUY VAI TRÒ NHÂN SĨ TRÍ THỨC TRONG SỰ NGHIỆP ĐẠI ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN TỘC

PHÁT HUY VAI TRÒ NHÂN SĨ TRÍ THỨC
TRONG SỰ NGHIỆP ĐẠI ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN TỘC
                                                                                               NGUYỄN ĐÌNH AN*
Theo từ điển Tiếng Việt, nhân sĩ là “Người trí thức có danh vọng, có tư tưởng tiến bộ”. Từ nhân sĩ thường đi liền với từ trí thức thành một cụm từ nhân sĩ trí thức. Chúng ta chưa có một nghiên cứu nào xác định cụm từ nhân sĩ hoặc nhân sĩ trí thức xuất hiện đầu tiên lúc nào, trong tài liệu nào. Trong Đường Kách mệnh, được xem như là một văn kiện lý luận, có hệ thống đầu tiên về đường lối cách mạng của Đảng được Nguyễn Ái Quốc viết năm 1927 cũng chưa thấy có khái niệm nhân sĩ. Có thể nhân sĩ là một từ xuất hiện trong quá trình vận động đoàn kết toàn dân tộc chống thực dân Pháp của Đảng ta. Đó là những người thuộc tầng lớp trí thức (có thể là nho học hoặc tây học) có sự hiểu biết sâu rộng (không nhất thiết là có bằng cấp), có nhân cách (không có tai tiếng, tỳ vết về đạo đức), có uy tín xã hội. Về giai cấp họ không phải là chỗ dựa của cách mạng, nhưng tranh thủ được họ rất có lợi trong việc vận động, lôi kéo quần chúng, phân hóa kẻ thù, góp phần tích cực vào thành công của cách mạng.
1. Đảng ta đã chú trọng phát huy vai trò nhân sĩ trí thức từ trước năm 1945
Phan Thanh là người thông minh xuất chúng và có nhân cách cao thượng. Từ Quảng Nam, ông ra Hà Nội mưu sinh và lập thân lập nghiệp, ông tham gia mở trường tư và dạy học, dạy rất giỏi. Ông mau chóng kết thân và có uy tín trong giới trí thức. Có nhiều bạn thân (như Võ Nguyên Giáp) và có người em ruột (là Phan Bôi) là đảng viên và cán bộ cốt cán của Đảng Cộng sản, ông chịu ảnh hưởng nhiều mặt của họ và sẵn sàng hành động theo hướng dẫn của họ. Nhưng ông không vào Đảng vì thấy ở ngoài Đảng có lợi hơn cho cách mạng. Chính vì không phải là đảng viên Cộng sản, ông tham gia Đảng Xã hội Pháp (chi nhánh ở Đông Dương) và tham gia (trúng cử) vào ba cơ quan dân cử lúc bấy giờ, ông nổi tiếng trong các hoạt động nghị trường, báo chí, xã hội. Có thể xem Phan Thanh là một trong những nhân sĩ trí thức lớp đầu của Việt Nam được Đảng thu hút vào hoạt động cách mạng.
Trong sách “Phan Thanh, anh là ai”, tác giả Phan Vịnh (con trai của Phan Thanh) có kể một câu chuyện: Đồng chí Trường Chinh ốm nằm điều trị trong bệnh viện Bạch Mai, một hôm đồng chí Hoàng Quốc Việt vào thăm. Hai người trò chuyện với nhau, nảy ra ý kiến cử anh Phan Thanh đến mời cụ Nguyễn Văn Tố đứng ra xin lập hội “Truyền bá quốc ngữ”.
Nguyễn Văn Tố là một học giả nổi tiếng, uyên thâm cả nho học và tây học, là một trong 4 người giỏi nhất đất Bắc Hà thời ấy (Quỳnh, Vĩnh, Tố, Tốn). Ông đang làm việc tại Viện Viễn Đông bác cổ, có uy tín lớn cả về tài năng và đức độ. Ông là người vừa có thể làm việc với những người cách mạng, vừa có khả năng ứng phó khôn khéo với bọn thực dân, mật thám. Ông là người có bản lĩnh khẳng khái, không sợ đế quốc đe dọa, không chịu để chúng lợi dụng.
Chính nhờ vai trò của Nguyễn Văn Tố mà Hội truyền bá quốc ngữ thu hút được nhiều nhân sĩ trí thức nổi tiếng, như: cụ Phó bảng Bùi Kỷ, các ông Trần Trọng Kim, Lê Thước, Trần Văn Giáp, Hoàng Xuân Hãn, Nguyễn Văn Huyên..., mau chóng mở rộng hoạt động khắp ba kỳ. Đại diện thống sứ Bắc Kỳ, các quan lại cao cấp, như Hoàng Trọng Phu, Vi văn Định đã có mặt trong nhiều hoạt động Hội. Hội truyền bá quốc ngữ với các hoạt động nâng cao dân trí đã trở thành phong trào vận động văn hóa sâu rộng, sôi nổi chưa từng có do Đảng khởi xướng và lãnh đạo, đặt cơ sở cho việc xóa nạn mù chữ (bình dân học vụ) trên đất nước ta sau này. Đây cũng là một môi trường của những hoạt động yêu nước vì nhân dân, tập hợp, lôi cuốn được đủ mọi thành phần.
Đánh giá cao, chú trọng phát huy vai trò của nhân sĩ trí thức là điều được Hồ Chủ tịch rất quan tâm trong quá trình lãnh đạo cách mạng, và đích thân Người đã có những hoạt động mẫu mực, sáng tạo về lĩnh vực này.
Đầu năm 1941, Nguyễn Ái Quốc về nước chỉ đạo thành lập Mặt trận Việt Minh, đoàn kết liên hiệp tất cả các tầng lớp nhân dân, các đảng phái cách mạng, các đoàn thể yêu nước, cùng nhau đánh Pháp, đuổi Nhật giành độc lập.
Trong Mặt trận Việt Minh, các nhân sĩ trí thức có vai trò quan trọng. Ngay trước khi về Pắc Bó, trong cuộc gặp đồng chí Hoàng Văn Thụ, ủy viên Thường vụ Trung ương, Bí thư xứ ủy Bắc Kỳ, Nguyễn Ái Quốc đã hỏi đồng chí Hoàng Văn Thụ về các nhân sĩ nổi tiếng của đất nước, như Phan Bội Châu, Phan Văn Trường, Nguyễn An Ninh, Huỳnh Thúc Kháng. Đồng chí Hoàng Văn Thụ  không nắm rõ tình hình các vị ấy nhưng Bác nói: “Trong lúc này, cuộc vận động giải phóng dân tộc của chúng ta rất cần những con người như thế”.
Ngày 6-6-1940, trong lá thư đầu tiên gửi đồng bào, Người viết:
“Hỡi các bậc phụ huynh;
Hỡi các hiền nhân chí sĩ;
Hỡi các bạn sĩ, nông, công, thương, binh”.
Chỉ riêng việc xác định và sắp đặt các đối tượng của bức thư và thể hiện nó qua các từ được chọn lựa, chúng ta có thể thấy Người đã làm khác một bức thư kêu gọi thông thường và Người đã quan tâm đến vận động nhân sĩ trí thức như thế nào.
 Sau Cách mạng Tháng Tám, theo sự chỉ đạo sáng suốt đầy tính nhân văn của Người, Vua Bảo Đại được mời và đã nhận lời làm cố vấn của Chính phủ cách mạng, nhiều quan lại cao cấp, như: Thượng thư Bùi Bằng Đoàn, Khâm sai đại thần Phan Kế Toại, các vị Tổng đốc Vi Văn Định, Hồ Đắc Điềm, Phạm Phú Tiết và hầu hết các nhà tri thức hàng đầu, như: Hoàng Xuân Hãn, Phan Anh, Hồ Đắc Di, Nguyễn Văn Huyên...; nhiều chức sắc và nhà hoạt động tôn giáo, như: Giám mục Hồ Ngọc Cẩn, Giám mục Lê Hữu Từ, cư sĩ - bác sĩ Tâm Minh Lê Đình Thám, cụ Cao Triều Phát (đạo Cao Đài); những nhà tư sản lớn, như: Nguyễn Sơn Hà, Trịnh Văn Bô; các văn nghệ sĩ tài danh, như: Thế Lữ, Tú Mỡ, Tô Ngọc Vân, Xuân Diệu, Huy Cận... đều ủng hộ cách mạng, tham gia các hoạt động cách mạng. Và các nhân vật nổi tiếng này có tác động tích cực trong sự nghiệp tập hợp, mở rộng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, một nhân tố bảo đảm thắng lợi của cách mạng.
Đầu những năm 70 (thế kỷ 20) Đảng ta đã đưa ra chính sách hòa hợp dân tộc: “Lấy chính nghĩa để thuyết phục, lấy nhân nghĩa để cảm hóa, lấy khoan hồng để đối xử, xóa bỏ mặc cảm hận thù, những ai đoạn tuyệt quá khứ, trở về với đường ngay lẽ phải đều có chỗ đứng trong lòng dân tộc”.
Nhờ đó, Việt Nam đã không xảy ra tắm máu, khủng bố trả thù như kẻ địch dự báo, trông chờ; tình hình mau chóng ổn định. Nhân dân cả nước dù quá khứ đứng ở phía nào, đều đoàn kết chung tay xây dựng lại đất nước.
Trong thực hiện chính sách đại đoàn kết, hòa hợp dân tộc giai đoạn sau 30-4-1975, các nhân sĩ trí thức có một vai trò quan trọng.
Nhiều quan chức của chế độ Sài Gòn, như: Chủ tịch, Phó Chủ tịch Thượng viện, Hạ viện, Phó Thủ tướng, nhiều Bộ trưởng, tướng lĩnh đã có thái độ hợp tác với chính quyền cách mạng. Nhiều nhân sĩ trí thức đã di tản cũng trở về thăm quê hương và tham gia xây dựng đất nước, có người đã về định cư hẳn ở Việt Nam.
Mặc dù còn những hạn chế, thiếu sót và một số nhân sĩ trí thức còn có mặc cảm, định kiến nhưng chỉ riêng việc cùng một thời điểm, ba nhân vật: Nguyễn Cao Kỳ, Phạm Duy, Thích Nhất Hạnh cùng có mặt ở Việt Nam đã nói lên chính sách đại đoàn kết, hòa hợp dân tộc đã đi vào cuộc sống, đồng thời khẳng định dân tộc Việt Nam là một dân tộc giàu tinh thần cộng đồng, có truyền thống nhân đạo, khoan dung.
2. Quảng Nam và Đà Nẵng là một trong những nơi nhân sĩ trí thức có vai trò quan trọng và được Đảng quan tâm phát huy
Qua việc Phan Thanh được bầu vào Viện dân biểu Trung Kỳ, hoạt động của ông tại đây, cái chết và những hoạt động tưởng niệm ông, rồi việc vận động bầu cho Đặng Thai Mai thay vị trí của Phan Thanh khi ông mất, Đảng ta đã có nhiều kinh nghiệm về phát huy vai trò của nhân sĩ trí thức trong đấu tranh công khai, hợp pháp.
Sau Cách mạng Tháng Tám, nhiều quan lại cao cấp của triều Nguyễn đã theo cách mạng.
Phạm Phú Tiết, cháu nội Phạm Phú Thứ, từng làm Tổng đốc Bình Phú, Thanh Hóa, công tác trong ngành Tòa án ở Liên khu V, rồi tập kết ra Bắc làm công tác nghiên cứu Hán Nôm, có đóng góp trong dịch Nhật ký trong tù của Hồ Chủ tịch. Lương Trọng Hối từng làm Tổng đốc Quảng Ngãi, trong kháng chiến chống Pháp có thời gian làm Chủ tịch Mặt trận Liên Việt tỉnh Quảng Nam, Chủ tịch Hội Đông y Quảng Nam. Tổng đốc Trương Xuân Mai tham gia công tác Mặt trận rồi tập kết ra Bắc.
Nhiều trí thức nổi tiếng, như các bác sĩ Lê Đình Thám, Trần Đình Nam, Phạm Phú Dõng, Trương Gia Thọ, Huỳnh Vong..., các dược sĩ Huỳnh Quang Đại, Trương Xuân Nam, Nam Trân Nguyễn Học Sĩ... đã phát huy tài năng chuyên môn đóng góp cho cách mạng, kháng chiến và cho sự nghiệp đại đoàn kết dân tộc.
Thật khó hình dung Nam Trân Nguyễn Học Sĩ, nhà thơ tác giả Huế đẹp và thơ, một quan Tham tá tòa khâm sứ, quan Tá lý Bộ Lại triều Bảo Đại, khi Cách mạng Tháng Tám nổ ra, ông đang làm quan Án sát ở Phú Yên đã về quê làm cán bộ xã, rồi làm Chủ tịch huyện và được tin cậy giao giữ chức Chánh Văn phòng Ủy ban Kháng chiến - Hành chính Nam Trung bộ. Sau khi tập kết ra miền Bắc, với vốn Hán học và Tây học sâu rộng, ông đã trở thành một chuyên gia giỏi có đóng góp quan trọng trong dịch Nhật ký trong tù của Hồ Chủ tịch, dịch thơ Đường và nhiều tác phẩm kinh điển của văn học phương Tây.
Nhiều nhân sĩ trí thức ở lại miền Nam, cách mạng đã quan tâm tiếp cận, động viên họ tham gia chống Mỹ cứu nước, nhiều người đã có những cống hiến tích cực cho sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc, như anh em giáo sư Hồ An, Hồ Quý.
Bà Phan Châu Liên, con gái nhà yêu nước Phan Châu Trinh, vợ giáo sư Lê Ấm, trước Cách mạng Tháng Tám đã có quan hệ giúp đỡ các nhà cách mạng, như Tôn Quang Phiệt, Võ Nguyên Giáp... Trong kháng chiến chống Pháp, bà hoạt động trong Hội phụ nữ và công tác cứu tế, luôn luôn nhiệt tình giúp đỡ các đồng chí lãnh đạo địa phương. Trong chống Mỹ, bà là yếu nhân của phong trào phụ nữ đòi quyền sống ở Đà Nẵng, là người bảo trợ cho tổ chức Tổng đoàn học sinh, nhà bà là nơi đi về liên lạc của nhiều nhân sĩ nổi tiếng, như bà luật sư Ngô Bá Thành, ni sư Huỳnh Liên...
Bà Phụng Ký, một nữ nghệ sĩ nhiếp ảnh lão thành, cầm máy từ những năm 30 (thế kỷ 20), trong kháng chiến chống Pháp bà có tiệm ảnh ở Tam Kỳ. Trong chống Mỹ, tiệm ảnh lớn của bà trên đường Hùng Vương, Đà Nẵng là một cơ sở nuôi giấu cán bộ cách mạng. Nhiều lần bị địch bắt, tra tấn bà vẫn một lòng một dạ với cách mạng.
Trong cao trào chống Mỹ, ở các đô thị miền Nam đã xuất hiện nhiều nhân sĩ trí thức, trong đó có nhà giáo Vĩnh Linh. Ông là một giáo viên Toán rất giỏi, là người công giáo lại dòng dõi hoàng tộc. Ông là chỗ dựa tinh thần của Tổng đoàn học sinh, lực lượng đấu tranh sôi nổi nhất lúc đó. Địch bắt ông, tù đầy tra tấn dã man, ông vẫn kiên trung, bất khuất.
Nhiều con dân của Quảng Nam - Đà Nẵng vì yêu cầu học hành để thăng tiến, vì mưu sinh, vì chống khủng bố mà đổi vùng, đã sinh sống, lập nghiệp ở thành phố Sài Gòn, trong đó có một số nhân sĩ trí thức, như nhà văn hóa Thiên Giang Trần Kim Bảng. Ông là đảng viên năm 1930, ông (cùng với vợ là nữ sĩ Vân Trang) tham gia phong trào bảo vệ văn hóa dân tộc và Liên minh các lực lượng dân tộc, dân chủ và hòa bình; nhà văn Vũ Hạnh (Nguyễn Đức Dũng) từng là Tổng thư ký phong trào bảo vệ văn hóa dân tộc.
Trong tình hình có đến 3 triệu người Việt định cư ở nước ngoài, cộng đồng Việt kiều là một bộ phận của dân tộc. Tập hợp, đoàn kết đông đảo Việt kiều, phát huy sức mạnh của họ trong sự nghiệp đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng đất nước, là nhiệm vụ rất quan trọng, có ý nghĩa chiến lược. Quảng Nam - Đà Nẵng cũng là nơi có nhiều nhân sĩ trí thức là Việt kiều.
Ông Bùi Kiến Thành, chuyên gia cao cấp về tài chính, là con của bác sĩ Bùi Kiến Tín học và sống ở Pháp nhiều năm, từng nổi tiếng với dầu khuynh diệp bác sĩ Tín. Bác sĩ Tín là con của ông Bùi Biên (Cửu Thứ), có thời làm Chủ tịch Mặt trận Liên Việt Quảng Nam. Ông và gia đình là nạn nhân một vụ ném bom của giặc Pháp (1952) ở Trung Phước. Ông Bùi Biên thuộc tộc Bùi Vĩnh Trinh mà Quản Nghi Bùi Thân (ông nội của ông Cửu Thứ) được xem là người giàu nhất Quảng Nam. Ông Bùi Kiến Thành du học ở Pháp, rồi Mỹ, từng là viên chức quan trọng của nhiều tập đoàn tài chính và cơ quan của chính phủ Mỹ, của Liên hợp quốc. Ông là người có đóng góp quan trọng vào việc bình thường hóa quan hệ Mỹ - Việt, trong thiết lập quan hệ làm ăn giữa Việt Nam với WB, IMF, đã giúp Chính phủ ta tổ chức thành công việc bán trái phiếu chính phủ trên thị trường quốc tế. Em ông, kiến trúc sư Bùi Kiến Quốc đã về làm ăn ở Việt Nam, có đầu tư mở các cơ sở du lịch ở Hội An, Điện Bàn.
Các nhân sĩ trí thức phần lớn đều xuất thân từ những danh gia vọng tộc, hoàn cảnh gia đình nhiều người có những nét rất đặc biệt.
Bác sĩ Lê Đình Thám (1897 - 1969) là con của Thượng thư Lê Đĩnh từng là Tổng đốc Hà An (Hà Nội, Hưng Yên), sau khi Hoàng Diệu tuẫn tiết, từng tham gia phái bộ của triều đình nhà Nguyễn công cán ở Singapor, Hồng Kông và có những kiến nghị cải cách, không được triều đình chấp nhận. Ông là em ruột của bác sĩ, chí sĩ Lê Đình Dương (1894 - 1919) một yếu nhân trong cuộc khởi nghĩa Duy Tân bất thành năm 1916. Nổi tiếng thông minh, ông đậu thủ khoa trường Cao đẳng y khoa Hà Nội năm 1916. Khi làm việc ở Huế, ông cùng bác sĩ Normet có phát minh, được giới y học đánh giá cao. Vừa làm chuyên môn của một bác sĩ, ông còn có công lớn trong chấn hưng Phật giáo (từ biên dịch kinh sách, đào tạo tăng tài, đổi mới sinh hoạt, làm cho Phật giáo trở nên hiện đại sống động). Kháng chiến chống Pháp, ông về Quảng Nam phụ trách một bệnh viện rồi làm Giám đốc Sở Y tế, Chủ tịch Ủy ban Kháng chiến - Hành chính Nam Trung Bộ. Ông được Hồ Chủ tịch mời ra Việt Bắc, đảm nhận chức Chủ tịch Ủy ban Hòa bình thế giới của Việt Nam, Phó Chủ tịch Hội đồng hòa bình thế giới, ông còn giữ nhiều vị trí quan trọng trong Mặt trận, trong Giáo hội Phật giáo.
Binh bộ Thượng thư Hồ Lệ (1849 - 1905), quê Đại Minh, Đại Lộc, có nhiều người con đỗ đạt và làm quan, trong đó có Hồ Ngận. Cách mạng Tháng Tám bùng nổ, Hồ Ngận đang làm Tỉnh trưởng (Tổng đốc) Phú Yên. Con ông Hồ Ngận là Hồ An lúc đó là sinh viên về nghỉ hè với cha, đã tham gia Việt Minh. Hồ An là Trưởng ban tuyên truyền Phú Yên, ít lâu sau ông được đề bạt là Trưởng ty Thông tin tuyên truyền Phú Yên. Các con của Hồ Ngận đều tham gia Việt Minh, sau đó có người đi bộ đội.
Trong kháng chiến chống Pháp, Hồ Ngận có lúc là Tỉnh trưởng tỉnh Quảng Nam. Các con ông là Hồ An, Hồ Ba (Hồ Hoàng Thanh), Hồ Vinh và con gái Hồ Vân (vợ nhà văn Nguyễn Văn Bổng) đều là cán bộ cách mạng. Họ đã viết một bức thư không niêm gửi cha, khuyên ông nên chấm dứt việc làm tay sai cho Pháp, về với chính nghĩa cách mạng. Lá thư này được đăng trên báo Chiến thắng và lãnh đạo tỉnh đã cử người đem trao tận tay Hồ Ngận. Do tác động của lá thư, do tình cha con và nhiều nguyên nhân khác, ông từ chức.
Các con ông vẫn tiếp tục hoạt động cách mạng. Sau hiệp định Giơ ne vơ chỉ có Hồ Ba (Hồ Hoàng Thanh) tập kết ra Bắc, học đại học rồi công tác tại Tạp chí Cộng sản, sau 4-1975 mới về Quảng Nam - Đà Nẵng công tác tại Hội Văn nghệ. Hồ Vinh đi bộ đội, không đi tập kết mà ở lại hoạt động bí mật, bị địch bắt giam, tra tấn đến chết.
Các ông Hồ An, Hồ Quý ở lại Đà Nẵng dạy học đều là cơ sở cách mạng và đều bị bắt. Dù địch tra tấn rất dã man, các ông vẫn một lòng trung kiên với cách mạng.
Năm 1964, ông Hồ An được tổ chức đưa lên căn cứ. Ông là Ủy viên thường trực Uỷ ban Mặt trận Dân tộc giải phóng Trung Trung bộ và cống hiến cả cuộc đời mình cho sự nghiệp đại đoàn kết dân tộc. Về hưu sống ở Đà Nẵng, ông vẫn dạy tiếng Anh, viết sách và tham gia các hoạt động của Mặt trận khi đã ngoài 80 tuổi.
Ông Hồ Quý bị địch bắt, tra tấn đọa đầy và giam ở nhà lao Thừa Phủ (Huế), Xuân Mậu Thân (1968) quân giải phóng tiến công Huế, ông và các bạn tù được giải phóng. Về Quảng Nam, ông được giao nhiệm vụ Phó Chủ tịch Liên minh các lực lượng dân tộc, dân chủ và hòa bình Đà Nẵng. Sau đó ít lâu ông được ra Bắc chữa bệnh, điều dưỡng. Ông về sống và công tác trong ngành giáo dục Đà Nẵng sau ngày toàn thắng.
Qua những sự kiện và nhân vật đã trình bày, chúng ta có thể thấy nhân sĩ trí thức không phải là một giai tầng, vai trò của họ là vai trò cá nhân (có thể gắn với vai trò của gia đình), hành trang của họ rất phong phú, đa dạng. Không phải chỉ những người ngoài đảng mới là nhân sĩ trí thức. Một số người là đảng viên, cán bộ của Đảng, nhưng vai trò nhân sĩ rất rõ.
Công tác vận động nhân sĩ trí thức thuộc phạm trù công tác dân vận, nhưng đây là một đối tượng đặc biệt, thường không thể tập hợp đông đảo để hô hào mà phải đi vào cảm hóa, thuyết phục từng người. Trong trường hợp có tập hợp đông đảo phải có những nhân sĩ trí thức tiêu biểu, có uy tín, đứng ra hiệu triệu (như Hồ Chủ tịch đã dặn dò trong thư gửi Phan Bôi, Hoàng Hữu Nam mời cụ Bùi Bằng Đoàn kêu gọi quan lại cũ và mời luật sư Phan Anh kêu gọi trí thức).
Không có một phác đồ nào cho công tác vận động nhân sĩ trí thức. Cảm hóa, thuyết phục họ chủ yếu là phát huy lòng yêu nước, tinh thần dân tộc của họ. Phát huy được vốn quý này, họ sẽ có sức mạnh vượt mọi khó khăn, chủ động sáng tạo để cống hiến, phục vụ. Điều quan trọng là phải tin cậy, tôn trọng họ, gần gũi, cởi mở với họ.
Trong các nhân sĩ trí thức có thể có người không thủy chung với cách mạng, nếu họ giữa đường đứt gánh thì cũng không có gì là bất ngờ, cách đối xử của cách mạng phải là: thà người phụ ta chứ ta không phụ người.
Chúng ta thành tâm trong đánh giá và phát huy vai trò của nhân sĩ trí thức, điều này xuất phát từ thực tiễn lịch sử của dân tộc. Như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: “Hễ là người Việt Nam, ai cũng có lòng yêu nước” và ai cũng sẵn sàng vì lợi ích của dân tộc. Đồng chí Lê Duẩn đã phân tích, đánh giá cao và quan tâm phát huy vai trò của nhân sĩ trí thức, cũng như khẳng định hòa hợp dân tộc là “một chính sách lớn thể hiện lập trường giai cấp đúng đắn của Đảng ta” (Lê Duẩn, Thư vào Nam, trang 330).
Chúng ta đã hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc, song xây dựng Việt Nam đạt mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh còn là một quá trình phấn đấu đầy gian nan, thử thách. Trong quá trình phấn đấu ấy, chắc chắn công tác vận động nhân sĩ trí thức vẫn còn đòi hỏi nhiều nỗ lực, quan tâm, và cả những cách nhìn mới, cách nghĩ mới, cách làm mới.
___________________________________________
1. Liên minh các lực lượng dân tộc, dân chủ và hòa bình Việt Nam là một tổ chức rộng rãi, tập hợp những cá nhân và tổ chức ở các đô thị miền Nam, tán thành dân tộc, dân chủ, hòa bình, chống Mỹ - Thiệu, thành lập vào giữa tháng 4-1968 do luật sư Trịnh Đình Thảo làm Chủ tịch. Tháng 6-1969 Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam và Liên minh các lực lượng dân tộc, dân chủ và hòa bình Việt Nam mở Đại hội quốc dân thành lập Chính phủ cách mạng lâm thời do KTS Huỳnh Tấn Phát là Chủ tịch; luật sư Nguyễn Hữu Thọ, Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, là Chủ tịch Hội đồng cố vấn và luật sư Trịnh Đình Thảo là Phó Chủ tịch Hội đồng cố vấn. Ở Đà Nẵng, Chủ tịch Liên minh các lực lượng dân tộc, dân chủ và hòa bình Việt Nam là giáo sư Nguyễn Đóa. Ông là một nhà giáo lão thành, quê Điện Thọ, Điện Bàn, Quảng Nam, anh ruột của đồng chí Nguyễn Xuân Nhĩ từng là Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch Ủy ban nhân dân Quảng Nam, Thường trực Liên khu V. Ông dạy học và sống ở Huế nhiều năm, thường gọi là ông Đốc Đóa. Ông cũng được giao trọng trách Phó Chủ tịch Chính phủ cách mạng lâm thời miền Nam Việt Nam.
Tổng Thư ký là ông Hà Trọng Xuân, một sinh viên tham gia tranh đấu và đã thoát ly lên căn cứ. Hà Trọng Xuân bị ốm được ra Bắc điều dưỡng. Ông mất trên đường Trường Sơn.
* Nguyên Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc thành phố Đà Nẵng.
    | MỤC LỤC | Trở Về đầu trang  |       


MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM
CHỖ DỰA VỮNG CHẮC CỦA CHÍNH QUYỀN NHÂN DÂN
                                                                                                   LÊ MẬU NHIỆM*
      Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là bộ phận của hệ thống chính trị của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân, đại diện cho quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân, nơi thể hiện ý chí, nguyện vọng, tập hợp khối đại đoàn kết toàn dân, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, nơi hiệp thương, phối hợp và thống nhất hành động của các thành viên.
1. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là chỗ dựa vững chắc của chính quyền nhân dân
Trong những năm qua, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã tích cực, chủ động mở rộng tổ chức bằng nhiều hình thức thích hợp, đã động viên phong trào quần chúng, góp phần nâng cao dân trí, năng lực, trình độ chuyên môn... cho đoàn viên, hội viên, góp phần phục vụ tích cực cho các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội. Nhằm phát triển tổ chức, các thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã đổi mới mạnh mẽ hình thức vận động để thu hút ngày càng rộng rãi các tầng lớp nhân dân vào tổ chức mình, tổ chức vận động đoàn viên, hội viên và các tầng lớp nhân dân hưởng ứng các cuộc vận động, các phong trào toàn dân nhằm thực hiện các nhiệm vụ chung về chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh, quốc phòng, đối ngoại và cải thiện đời sống của nhân dân; củng cố và mở rộng khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Tham gia ý kiến với Đảng và Nhà nước về chủ trương, chính sách, pháp luật liên quan đến quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, đến quốc kế dân sinh, đến quyền lợi và nhiệm vụ của các tổ chức thành viên trong Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Lựa chọn và giới thiệu người ra ứng cử đại biểu Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp; giám sát hoạt động của các cơ quan Nhà nước, đại biểu dân cử và cán bộ, công chức Nhà nước theo Hiến pháp và pháp luật. Thu thập và phản ánh ý kiến, nguyện vọng của các tầng lớp nhân dân với Đảng, Nhà nước.
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam có vai trò và trách nhiệm to lớn trong việc tham gia xây dựng và củng cố chính quyền nhân dân. Vai trò quan trọng này đã được xác định trong nhiều văn kiện quan trọng của Đảng những năm trước đây, gần đây là Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội của Đảng (1991), Nghị quyết 07 của Bộ Chính trị (khoá VII), Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ VIII, lần thứ IX, lần thứ X, lần thứ XI, Nghị quyết Trung ương 7 khoá IX (lần 2), Hiến pháp năm 1992, Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và nhiều đạo luật đã quy định trách nhiệm và quyền của Mặt trận Tổ quốc tham gia xây dựng và củng cố chính quyền nhân dân.
Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng xác định: “Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân có vai trò rất quan trọng trong việc tập hợp, vận động, đoàn kết rộng rãi các tầng lớp nhân dân; đại diện cho quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân; đưa các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, các chương trình kinh tế, văn hoá, xã hội, quốc phòng, an ninh vào cuộc sống, góp phần xây dựng sự đồng thuận trong xã hội... Các cấp ủy Đảng, chính quyền có chế độ tiếp xúc, đối thoại trực tiếp với nhân dân; thường xuyên lắng nghe ý kiến của Mặt trận và các đoàn thể nhân dân, phản ánh với Đảng, Nhà nước những vấn đề mà nhân dân quan tâm, tham gia xây dựng chủ trương, chính sách, pháp luật...”1.
Phát huy quyền làm chủ của nhân dân, tổ chức động viên nhân dân tham gia xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân trong sạch vững mạnh, thời gian qua, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp đã triển khai nhiều giải pháp để phát huy quyền làm chủ của nhân dân, tham gia xây dựng chính quyền các cấp và xem đây là nhiệm vụ quan trọng thường xuyên của tổ chức mình.
Cùng với việc tham gia xây dựng Đảng, công tác tham gia xây dựng chính sách, pháp luật được Mặt trận Tổ quốc các cấp quan tâm thực hiện và có kết quả thiết thực. Mặt trận Tổ quốc tham gia xây dựng pháp luật đã được Hiến pháp, Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật, Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam quy định. Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam mỗi năm đã tham gia ý kiến vào hàng chục dự án luật, pháp lệnh, nghị định. Nhiều bản góp ý do biết phát huy trí tuệ của đội ngũ cộng tác viên và mở rộng đối tượng góp ý mà có chất lượng cao, có sắc thái riêng của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, được cơ quan soạn thảo trân trọng tiếp thu và Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội chấp nhận.
Những năm qua, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các Hội đồng tư vấn của Uỷ ban và các tổ chức thành viên, như: Hội Luật gia Việt Nam, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Hội Liên lạc với người Việt Nam ở nước ngoài,... đã tham gia ý kiến vào nhiều dự án luật, pháp lệnh và nhiều văn bản pháp quy của Nhà nước. Nhiều ý kiến đóng góp của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã được các cơ quan xây dựng pháp luật tiếp thu, bổ sung, góp phần làm cho các văn bản luật được thông qua phù hợp với thực tiễn hơn, đáp ứng được nguyện vọng chính đáng của các tầng lớp nhân dân. Một số dự án luật có liên quan trực tiếp đến quyền và nghĩa vụ của nhân dân, ngoài việc cử đại diện tham gia các Ban soạn thảo, Mặt trận còn thông qua các Hội đồng tư vấn tổ chức thảo luận, góp ý có chất lượng, như: Luật Khiếu nại, tố cáo; Luật Phòng, chống tham nhũng; Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; Luật Bình đẳng giới; Luật Thuế thu nhập; Luật Quốc tịch; Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo; Pháp lệnh Thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn; Luật Khám bệnh, chữa bệnh; Luật Người cao tuổi; Luật Nhà ở; Luật Người khuyết tật; Luật Bảo hiểm y tế, Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục; Luật Phòng, chống buôn bán người; Bộ luật Tố tụng dân sự (sửa đổi); Luật Thủ đô; Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật; Luật Tố tụng hành chính; Luật Thuế nhà đất, Luật Ngân sách Nhà nước (sửa đổi)... và nhiều văn bản chính sách, pháp luật của Nhà nước...
Ủy ban Mặt trận Tổ quốc các cấp và các tổ chức thành viên đã chủ động tham gia triển khai thực hiện làm điểm Quy chế Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giám sát cán bộ, công chức, đảng viên ở khu dân cư; thông qua đó phát hiện những cán bộ, đảng viên gương mẫu để khen thưởng, xử lý những cán bộ, đảng viên có vi phạm, tham nhũng, lãng phí, yếu kém về phẩm chất và năng lực lãnh đạo. Đặc biệt, thông qua cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” Ủy ban Mặt trận Tổ quốc các cấp và các tổ chức thành viên đã góp phần nâng cao chất lượng của công tác giám sát cán bộ, đảng viên ở cơ sở, từng bước triển khai nhiệm vụ giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận và các đoàn thể nhân dân để góp phần không ngừng nâng cao chất lượng hoạt động của bộ máy Nhà nước các cấp, xây dựng Nhà nước ngày càng vững mạnh.
Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp và các tổ chức thành viên đã tích cực vận động các tầng lớp nhân dân hưởng ứng, tham gia cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XII năm 2007 và bầu cử bổ sung đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp. Đảng đoàn Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã phối hợp với Đảng đoàn các tổ chức thành viên lãnh đạo tốt công tác hiệp thương, lựa chọn, giới thiệu người ứng cử; tổ chức hội nghị lấy ý kiến của cử tri nơi công tác và nơi cư trú đối với những người ứng cử; đẩy mạnh tuyên truyền, vận động các tầng lớp nhân dân tham gia bầu cử và giám sát chặt chẽ các bước của cuộc bầu cử, góp phần đảm bảo cuộc bầu cử diễn ra đúng luật, an toàn, tiết kiệm, thực sự là cuộc vận động chính trị và sinh hoạt dân chủ sâu rộng của cử tri và nhân dân cả nước.
Công tác tập hợp ý kiến, kiến nghị của cử tri và các tầng lớp nhân dân của Ủy ban Mặt trận các cấp để phản ánh tại kỳ họp Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp đã thành nề nếp và ngày càng đáp ứng nhu cầu, quyền lợi chính đáng, hợp pháp của nhân dân. Các hoạt động tham gia công tác tố tụng, tuyển chọn thẩm phán và giới thiệu hội thẩm Tòa án nhân dân đã được quan tâm thực hiện theo quy định của pháp luật. Hiện nay ở một số địa phương, Mặt trận xã, phường, thị trấn đã chủ trì việc bỏ phiếu tín nhiệm các chức danh chủ chốt của chính quyền cơ sở đã đem lại những kết quả bước đầu. Việc tham gia giải quyết các khiếu nại, tố cáo của công dân ngày càng được quan tâm đúng mức, có một số vụ việc đã được Mặt trận các cấp thực hiện, được nhân dân hoan nghênh. Hoạt động của Ban thanh tra nhân dân được chú trọng hơn, việc tổ chức hòa giải ở cơ sở tiến hành có hiệu quả, góp phần giải quyết nhiều mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân.
Thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ Ba của Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (khoá VI) về việc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tham gia thực hiện Luật Phòng, chống tham nhũng và Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, Mặt trận Tổ quốc các cấp đã tăng cường các biện pháp thực hiện, nâng cao chất lượng hoạt động của Ban thanh tra nhân dân, giám sát đầu tư của cộng đồng... Từ thực tiễn triển khai Quy chế dân chủ ở cơ sở và Thông tri 06 về lấy phiếu tín nhiệm đối với các chức vụ chủ chốt do Hội đồng nhân dân cấp xã bầu và trưởng thôn, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã chủ động phối hợp, kiến nghị với Uỷ ban Thường vụ Quốc hội ban hành Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn (có hiệu lực từ 1-7-2007), thay thế Nghị định số 79, ngày 7-7-2003 của Chính phủ; trong đó mở rộng đối tượng và thành phần lấy phiếu tín nhiệm các chức danh chủ chốt của Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân cấp xã.
Thông qua các cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư”, “Ngày vì người nghèo”, “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam” và các phong trào thi đua, Mặt trận đã không ngừng phát huy tinh thần yêu nước của các tầng lớp nhân dân, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân. Mặt trận có nhiệm vụ phối hợp đưa đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của nhà nước đến với nhân dân, để nhân dân hiểu biết và thực hiện, đồng thời lắng nghe, thu thập tâm tư, nguyện vọng của các tầng lớp nhân dân để phản ánh, kiến nghị với Đảng và Nhà nước, thắt chặt mối quan hệ giữa nhân dân với Đảng và Nhà nước,...
Công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật nhằm góp phần nâng cao hiểu biết, chấp hành pháp luật trong các tầng lớp nhân dân, trong hội viên, đoàn viên tiếp tục được đẩy mạnh, nhất là thông qua việc triển khai Đề án “Xây dựng và đẩy mạnh tuyên truyền, vận động chấp hành pháp luật trong cộng đồng ở khu dân cư” từ năm 2006 đến năm 2010. Có trên 40 tỉnh, thành phố đã được Uỷ ban nhân dân tỉnh ra quyết định phê duyệt kế hoạch thực hiện Đề án. Các cấp Mặt trận đã coi trọng công tác phổ biến, tuyên truyền pháp luật tới các tầng lớp nhân dân, tạo cơ sở để động viên nhân dân phát huy dân chủ, giữ vững kỷ cương xã hội, thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở.
Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã cử cán bộ tham gia các đoàn kiểm tra liên ngành của Chính phủ để giám sát công tác đặc xá, công tác giải quyết những vụ khiếu nại, tố cáo bức xúc, tồn đọng kéo dài; tham gia với các đoàn giám sát của Hội đồng dân tộc, một số Uỷ ban của Quốc hội để giám sát thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở. Việc tổng hợp ý kiến, kiến nghị của cử tri và nhân dân để phản ánh với Đảng và Nhà nước đã có nề nếp. Tại các kỳ họp Quốc hội, các kỳ họp Hội đồng nhân dân các cấp, Đoàn Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Ban Thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc các cấp đã tổng hợp và trình bày báo cáo các ý kiến, kiến nghị của cử tri và nhân dân, được dư luận đồng tình và đánh giá cao.
Những việc làm trên của Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên đã góp phần quan trọng vào việc tuyên truyền, vận động nhân dân tham gia xây dựng, chỉnh đốn Đảng, xây dựng chính quyền trong sạch, vững mạnh, xứng đáng với niềm tin yêu của nhân dân, thực hiện giám sát của nhân dân đối với việc thực thi trách nhiệm và đạo đức lối sống của cán bộ, đảng viên, công chức, đại biểu dân cử và hoạt động của các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các chủ trương, chính sách, pháp luật trong cuộc sống. Kết quả đó đã góp phần tích cực vào việc đổi mới và nâng cao chất lượng hoạt động của hệ thống chính trị, phát huy dân chủ tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước, tăng cường quan hệ mật thiết giữa Đảng và Nhà nước với nhân dân.
2. Nhiệm vụ xây dựng chính quyền nhân dân trong tình hình mới
Trong tình hình mới, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam xác định: “...Vận động nhân dân phát huy quyền làm chủ và giữ gìn kỷ cương, phép nước, tích cực tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước trong sạch, vững mạnh; nâng cao vai trò và trách nhiệm của Uỷ ban Mặt trận và các tổ chức thành viên trong việc chăm lo, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân; thực hiện vai trò giám sát và phản biện xã hội gắn với yêu cầu tăng cường sự đồng thuận xã hội”2. Theo đó, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tiếp tục vận động các tầng lớp nhân dân phát huy quyền làm chủ, tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa trong sạch, vững mạnh, giữ vững mối quan hệ mật thiết giữa nhân dân với Đảng và Nhà nước.
Vận động nhân dân tích cực tham gia xây dựng Đảng thông qua việc đóng góp ý kiến, kiến nghị, giám sát và phản biện xã hội theo quy định của pháp luật. Chú trọng tham gia xây dựng và thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng, nhất là những nội dung liên quan đến nhiệm vụ tập hợp, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng Đảng, Nhà nước trong sạch, vững mạnh.
Ủy ban Mặt trận các cấp và các tổ chức thành viên tăng cường công tác vận động nhân dân tham gia việc tổng kết về sự lãnh đạo của Đảng trong nhiệm kỳ 2006 - 2011, cùng với quá trình chuẩn bị và tổ chức đại hội đảng bộ các cấp, tiến tới Đại hội lần thứ XI của Đảng. Sơ kết việc triển khai thí điểm nhân dân giám sát cán bộ, đảng viên ở khu dân cư để triển khai thực hiện trên phạm vi toàn quốc; nâng cao chất lượng việc tổ chức cho nhân dân đóng góp ý kiến cho đảng viên ở các khu dân cư trong quá trình thực hiện cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”.
Phát huy vai trò là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam vận động nhân dân tham gia xây dựng Nhà nước, xây dựng chính quyền nhân dân trong sạch, vững mạnh với tinh thần chủ động và tích cực hơn: tham gia và giám sát công tác bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIII và bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp năm 2011 bảo đảm dân chủ, đúng pháp luật và bình đẳng giới; lựa chọn người có đủ đức, tài tham gia vào bộ máy chính quyền các cấp. Mặt trận phối hợp hoạt động nâng cao chất lượng việc tổ chức tiếp xúc cử tri của đại biểu dân cử; lấy phiếu tín nhiệm đối với các chức danh chủ chốt của Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân cấp xã, thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở; tham gia tuyển chọn thẩm phán, kiểm sát viên các cấp; tổng kết 5 năm thực hiện pháp luật về Thanh tra nhân dân và Qui chế giám sát đầu tư của cộng đồng...
 Ủy ban Mặt trận các cấp và các tổ chức thành viên tăng cường đổi mới, nâng cao chất lượng công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật trong hội viên, đoàn viên và nhân dân để nâng cao nhận thức về thực hiện quyền và trách nhiệm của công dân trong việc phát huy dân chủ, vừa bảo đảm quyền làm chủ, vừa bảo đảm kỷ cương, phép nước, mọi người sống, làm việc theo Hiến pháp và pháp luật, không để kẻ xấu lợi dụng, xuyên tạc chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; kích động, lôi kéo gây rối trật tự cộng cộng, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Phối hợp với Nhà nước tổ chức tổng kết 10 năm thực hiện Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, đề nghị sửa đổi, bổ sung một số nội dung cho phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ mới của Mặt trận. Tổ chức thực hiện tốt nhiệm vụ giám sát và phản biện xã hội theo quy định của pháp luật, nâng cao trách nhiệm của Mặt trận tham gia giải quyết khiếu nại, tố cáo của nhân dân, thực hiện vai trò đại diện của Mặt trận trong việc chăm lo, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân.
Cách mạng là sự nghiệp của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Quan hệ giữa Đảng với nhân dân bao giờ cũng có ý nghĩa sống còn đối với sự nghiệp cách mạng. Trong điều kiện Đảng lãnh đạo chính quyền, mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân thể hiện tập trung ở hoạt động của Nhà nước, hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân. Để vươn lên xứng đáng với vai trò là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cần phải tiếp tục đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động, tăng cường sự phối hợp và thống nhất hành động của các tổ chức thành viên để vận động, tập hợp đông đảo các tầng lớp nhân dân nhằm tạo nên sức mạnh to lớn của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh như Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng đã đề ra.
___________________________________________
1. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb CTQG, Hà Nội 2006, tr.124.
2. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Nxb CTQG, Hà Nội 2010, tr.57, 58.
* ThS, Phó Chánh Văn phòng Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
 

Thứ Năm, 3 tháng 5, 2012

MỘT SỐ NHÀ VĂN TUỔI MÙI



MỘT SỐ NHÀ VĂN TUỔI MÙI
Mai Băng Phương
Nam Trân tên thật là Nguyễn Học Sĩ, sinh ngày 15 tháng 2 năm Đinh Mùi 1907 tại làng Phú Thượng, huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam. ông học chữ Hán, học trường Quốc học Huế và trường bảo hộ Hà Nội. Lúc còn học chữ Hán và học trường Quốc học ông đã làm thơ và viết văn. Thơ của ông đã đăng trên An Nam tạp chí, Phong Hóa Tràng An. Tác phẩm có: Huế đẹp và thơ (1939). ông mất năm 1967.
          Anh Thơ tên thật là Vương Kiều ân (Vương là họ cha, Kiều là họ mẹ), sinh tháng giêng năm Kỷ Mùi 1919 tại Ninh Giang, Hải Dương. Từ năm 1937 Anh Thơ đã có thơ đăng báo. Tập thơ đầu Bức tranh quê ( 1941 ) gồm 41 bài thơ là những cảnh nông thôn đợc sắp xếp theo trình tự bốn mùa và được miêu tả bằng sự quan sát khá tỉ mỉ, sắc nét, độc đáo và nhạy cảm. Trước Cách mạng tháng Tám 1945, Anh Thơ còn viết tiểu thuyết (Răng đen - 1943). Bà đã được giải thưởng của Tự lực văn đoàn năm 1939. Tác phẩm có: Bức tranh quê (1941), Xa ( 1941) , Theo cánh chim câu ( 1960) , Đảo Ngọc ( 1963) , Hoa dứa trắng ( 1967), Mùa xuân màu xanh (1974), Quê chồng (1977)...
          Nguyễn Bính thuở nhỏ tên Nguyễn Trọng Bính, thời gian ở Nam Bộ ông có tên là Nguyễn Bính Thuyết. ông sinh năm Kỷ Mùi 1919. Quê quân Vụ Bản, Nam Định. ông mồ côi mẹ từ lúc mới ba tháng tuổi. Thuở nhỏ, ông học ở nhà với cha là ông đồ Nguyễn Đạo Bình. Nguyễn Bính làm thơ khá sớm, bài thơ được đăng đầu tiên là bài Cô hái mơ. Năm 1937 tập thơ Tâm hồn được giải thưởng của Tự lực văn đoàn. Tác phẩm của ông có: Lỡ bước sang ngang, Tâm hồn tôi, Hương cố nhân, Mây Tần, Mười hai bến nước v.v... ông mất vào chiều ba mơi Tết năm ất Tỵ (20-1-1966) tại quê nhà.
          Huy Cận (Cù Huy Cận) sinh ngày 31 tháng 5 năm Kỷ Mùi 1919 tại Hương Sơn tỉnh Hà Tĩnh. Lúc nhỏ Huy Cận học ở rường tổng, sau vào Huế học thi đỗ tú tài Tây. Năm 1939 ra Hà Nội học Cao đẳng Nông Lâm. Cuối năm 1942 tham gia phong trào sinh viên yêu nước, tham gia thành lập Đảng Dân chủ, hoạt động trong Mặt trận Việt Minh. Tháng 8 1945 được dự Đại hội Quốc dân ở Tân Trào và được cử vào ủy ban Dân tộc Giải phóng. Được thay mặt chính phủ lâm thời vào Huế nhận sự thoái vị của Bảo Đại. Từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, ông liên tục giữ chức thứ trưởng Bộ Văn hóa, Bộ trưởng trong Chính phủ, Chủ tịch UBTQ liên hiệp các Hội VHNT Việt Nam... Huy Cận làm thơ từ năm 1934. ông chịu nhiều ảnh hưởng của văn học lãng mạn Pháp, thích thơ Đường và rất trân trọng vốn thơ ca dân tộc. Huy Cận tiếp thu ược những thành tựu của cạc nhà thơ mới lớp đầu và trở thành một trong những cây bút tiêu biểu cho giai đoạn phát triển mạnh nhất của phong trào thơ mới. Tác phẩm: Thơ cuộc đời (1963), Hai bàn tay em (1967), Những năm sáu mơi (1968), hiến trường gần chiến trường xa (1973), Ngày hằng sống ngày hằng thơ (1975) . . .
          Thôi Hữu tên thật là Nguyễn Đắc Giới, những ngày hoạt động bí mật có tên là Trần Văn Tấn, lấy bút danh là Tân Sắc, quê Bút Sơn Hoảng Hóa, Thanh Hóa. Thôi Hữu sinh năm Kỷ Mùi 1919, hy sinh năm 1950. Sau khi đỗ Thành chung ở quê, ông ào Huế học trớng Kỹ thuật thực hành và tham gia Đoàn thanh niên Cộng sản. Cuối năm 1943 ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương. Năm 1944 ông bị bắt giam ở Hỏa Lò. Cùng với một số đồng chí khác, ông vượt ngục thành công và được cử vào Ban chấp hành đảng bộ Hà Nội. Cách mạng tháng Tám thành công, ông công tác ở báo Sự thật. Năm 1946 ông áng lập tờ Thủ đô, tờ báo của các chiến sĩ mặt trận thủ đô ngày đầu kháng chiến chống Pháp. Năm 1947 ông lên Việt Bắc ham gia làm báo Vệ quốc quân, tiền thân của báo Quân đội Nhân dân. Ngày 16 tháng 12 năm 1950 ông hy sinh khi đang trên đường đi công tác. . . Tác phẩm của ông có: Đi sâu vào đích, Tù binh đường số bốn (ký), Lên Cấm Sơn (thơ), Thơ văn Thôi Hữu (1984).
Hữu Loan (Nguyễn Hữu Loan) sinh năm Kỷ Mùi 1919 tại Vân Hoàn, Nga Sơn, Thanh Hóa. Tháng Tám năm 1945 ông tham gia khởi nghĩa giành chính quyền ở huyện Nga Sơn quê ông. Cuối năm 1945 ông làm Trưởng ty Tuyên truyền ủy ban lâm thời tỉnh Thanh Hóa. Từ đầu năm 1946 đến năm 1951 ông làm trưởng ban tuyên huấn Liên khu IV do tướng Nguyễn Sơn làm khu trưởng. ông tham gia làm báo Chiến sự báo Văn nghệ. Một số bài thơ tiêu biểu của ông: Đèo Cả, Màu tím hoa sim, Quách Xuân Kỳ, Những làng đi qua, Hoa Lúa
Mộng Huyền sinh năm Kỷ Mùi 1919 tại Huế.
"Thơ Mộng Huyền có đôi ba bài đã đến với tôi như một hơi gió hiền hòa. Tôi nghĩ đến hơi gió ngàn năm vẫn đìu hiu trên sôn gHương.
Trong lời thơ hiu hắt một linh hồn yểu điệu và buồn buồn, hay thương người mà cũng rất dễ thương. Nó không tràn ngập, không lấn át hồn ta. Nó chỉ nhẹ nhàng, chỉ âm thầm và e lệ... " (Hoài Thanh).
          Bùi Hiển sinh ngày 22 tháng 11 năm Kỷ Mùi 1919 tại làng Phú Nghiã Hạ, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An. Thuở nhỏ ông sống ở Vinh, học đến lớp nhất thi vào trường huyện. Từ năm 1939 đến năm 1945 ông vừa dạy học tư, làm viên chức, vừa viết báo, viết văn. Nằm vạ là tác phẩm đầu tay của ông ra trên báo Ngày nay, tháng 9 năm 1940. Sau cách mạng tháng Tám 1945 ông làm trưởng ty Thông tin tỉnh Nghệ An, thường vụ Hột Văn nghệ liên khu Bốn. Năm 1954, ông làm phóng viên báo Nhân dân. Nằm 1972 ông làm Phó Tổng biên tập Nhà xuất bản Văn học. Tác phẩm tiêu biểu của ông: Nằm vạ (1941), ánh mắt (1961), Đường vui xứ bạn (1962), Đường lớn (1966), Người mẹ trẻ (1967), Hoa và thép (1972)...
(Trích báo Văn nghệ quân đội; số 567-568; trang 188-189)