Nam Trân

Nam Trân

Thứ Hai, 10 tháng 6, 2013

Mèo Huế



Mèo Huế

Đặng Tiến
Mèo là thành phần của tạo vật, không hệ thuộc loài người, không phải là sở hữu địa phương. Nói Mèo Huế là chuyện vui ngày Tết. Đất Huế, người Huế, tiếng Huế có bản sắc, biết đâu mèo Huế chẳng thừa hưởng ít nhiều phẩm chất của thổ ngơi và gia chủ?
Từ điển tiếng Huế (1) của Bùi Minh Đức là một ấn phẩm có vấn đề về ngôn ngữ học và từ điển học, nhưng là nguồn tư liệu quý về “người Huế, văn hóa Huế”. Ở mục mèo, tác giả trích dẫn: “phong dao Huế”, rồi “đồng dao Huế”.
Mèo ngoao cắn cổ ông thầy
Ông thầy bắt được một bầy mèo ngoao
Trích dẫn hai lần, có lẽ vì thích thú; một lần gọi là phong dao, là chủ ý nhấn mạnh tính cách địa phương; sau đó gọi là đồng dao, ngụ ý câu hát vui chơi của trẻ con, không có ý nghĩa gì. Tác giả nghe vậy, nhớ vậy và ghi lại như vậy, là đúng với tính chất văn chương truyền khẩu. Chúng ta không thể dựa vào văn bản nọ, ấn bản kia để nói rằng thoại này đúng, thoại kia sai. Ai muốn tìm hiểu câu hát, thì có thể thấy nó trong tuyển tập dày cộm 2800 do nhóm Nguyễn Xuân Kính(2):
Mèo ngao cắn cổ con cầy
Con cầy vật chết cả bầy mèo ngao
 Câu này rõ nghĩa, nhưng lại… thường thôi: cảnh mèo chó phân tranh là thường tình “như mèo với chó”, nó không độc đáo như ông thầy vô nghĩa trong câu “đồng dao xứ Huế”; ông Bùi sáu lần viết mèo ngoao thay vì ngao. Chữ ngoao là động từ tả việc, tiếng mèo kêu (để gọi người) còn ngao là tính từ, chỉ giống mèo lớn, gần với mèo rừng. Trong Từ điển tiếng Huế, ông Bùi phát âm theo giọng “Huế mình: noái, goại” mèo ngao là mèo ngoao, còn hơn nhiều từ điển tiếng Việt hiện hành, …không có từ ngao! Nói chuyện về người Huế, tiếng Huế, bao giờ cũng có cái vui. Ông Bùi còn dẫn “vè Huế”:
Dấu che bưng bít bấy chầy
Nay đà rõ mặt một bầy mèo ngoao
Có lẽ là sản phẩm địa phương thật, vì tìm nơi khác không thấy. Còn câu “hò Huế”:
Con mèo không rách, răng kêu mèo vá,
Con cá không thờ, răng gọi cá linh?
là lối hát đối đáp, chơi chữ, thịnh hành nhiều nơi phía Nam, nhưng thoại này với từ răng, thổ ngữ, mang chất Bình Trị Thiên rõ nét.
Đến câu này thì toàn quốc nhiều người biết:
Con mèo mà trèo cây táo
Bà gia lơ láo, mắng chửi nàng dâu.
Miền Trung, có lẽ là vùng Trị Thiên đã biến chế:
Con mèo trèo lên cây táo,
Mồ hôi chưa ráo, áo cụt chưa khô,
Dầu mà eng có nơi mô,
Em nguyền thác xuống ao hồ trọn danh.
Câu thơ chất phác, tha thiết, tình tứ, gợi nhớ không gian và tâm tình Huế. Và câu hò giã gạo:
Gặp nhau chưa ráo mồ hôi
Chưa tan cối gạo đã rời nhau ra.
Với từ ngữ địa phương, dân gian Trung bộ đã sáng tạo những hình ảnh xuất sắc:
Mèo thấy mỡ mèo thèm chết giãy
Mỡ thấy mèo mỡ nhảy tê tê.
Mèo thấy mỡ là tục ngữ ẩn dụ sự thèm muốn vật chất, thường là nói đàn ông trước nhan sắc. Thèm chết giãy, tiếng địa phương, nghĩa là thèm đến cùng cực, đến rãy chết như con cá giẫy giụa trên thớt. Con mèo được nhân cách hóa trong hình ảnh sống động. Câu sau, thủ pháp nhân cách hóa được đẩy xa hơn, táo bạo, tân kỳ hơn: mỡ thấy mèo, ngụ ý hóm hỉnh vì đối ngẫu với câu trên, người nghe hiểu: cục mỡ vô giác vô tri đây là người phụ nữ. Nhảy tê tê, nghĩa địa phương, là rãy rụa theo phản xạ của con cá tươi sắp chết, tưng tưng trong rổ cá. Nó không có nghĩa “mất cảm giác” như đã ghi trong các từ điển, kể cả của ông Bùi Minh Đức, nó cũng không có nghĩa tê tái, xót xa như trong thơ Thâm Tâm:
Ngoài phố mưa bay: xuân bốc rượu
Tấc lòng mong mỏi cháy tê tê
Ới ơi bạn tác ngoài trôi giạt
Chẳng đọc thơ ta tất cũng về
               (Vọng nhân hành, 1944)
Ông Bùi minh Đức mách: người Huế chuộng mèo tam thể: “có ba màu, rất óng ả. Loại mèo người Huế rất thích nuôi trong nhà”. Dễ hiểu thôi, vì vai trò tiên khởi của mèo khi được con người thuần hóa là bắt chuột và những loài gậm nhấm. Dần dà, ngày một ngày hai, những gia đình sung túc mới nuôi mèo vừa để diệt chuột, vừa làm bầu bạn. Huế trong một thời gian dài, là đế đô, thành phố hành chính. Các gia đình hoàng phái và quan lại, công chức, nuôi mèo làm cảnh, mua vui, làm bầu bạn, nhất là những lúc bài bạc, đánh tứ sắc, đổ xâm hường.
Nghe nói vua triều Nguyễn cũng có người nuôi mèo, do đó có từ mèo ngự.
Xuân Diệu có thời ở Huế; năm 1937, anh từ Hà Nội vào, học năm cuối cùng bậc tú tài. Ở Huế không lâu, nhưng anh chịu ảnh hưởng sâu đậm không gian đế đô, và đã viết nhiều đoản thiên, ba năm sau in thành tập truyện Phấn Thông Vàng(3) với những câu nổi tiếng: “Con đường Nam Giao thẳng mà không bằng, tôi khởi sự đi trong ánh sáng, và tôi tới lần trong bóng tối, tợ hồ bên thành phố Huế là ngày, bên Nam Giao là đêm” (bài Thương Vay).
Đặc biệt có chương “Chó mèo hoang” - không nhất thiết của một địa phương nào, nhưng ở đây, con mèo có nét Huế, mà Xuân Diệu mô tả rất tinh: “quý phái chứ không trưởng giả”:
“Dầu khổ sở thế nào, những con mèo hoang vẫn giữ lấy vẻ quí phái - quí phái chứ không trưởng giả. Cách đi đứng, cách nhai nuốt, cách nâng nhẹ những vật thừa thãi đều có cái duyên của những bà hoàng sẩy ngôi hay những cung nữ hết thời. Chúng bước dè dặt, không muốn dính mình vào đất dơ, chúng có cái đặc tài giữ chân cẳng trơn tru, dù phải dậm qua nhớp nhúa. Và hễ thong thả, chúng liền tỉ mỉ tắm gội. Những cơn đói không bắt chúng lành tính sạch sẽ; tuy là mèo hoang, chúng vẫn còn là mèo”.
“Những bà hoàng sẩy ngôi, cung nữ hết thời” sống lẩn quẩn trong các cung, các phủ, hay trong dân gian, đều có cử chỉ, ngôn ngữ tạo nên phong cách Huế. Làm sao phân biệt đâu là quý phái, đâu là trưởng giả? Có lẽ Xuân Diệu suy diễn từ tiếng Pháp đối lập quí phái (noblesse) thuộc dòng họ quý tộc, nhiều đời, với trưởng giả (aristocratie) là những nhà giàu, nhưng chưa kịp có phong cách sang trọng. Molière đã chế nhạo lớp người này qua vở kịch Trưởng giả học làm sang.
“Và hễ thong thả chúng liền tỉ mỉ tắm gội, những cơn đói không làm chúng lành tính sạch sẽ”; chính xác là trạng từ tỉ mỉ nhắc đến các mệnh phụ xứ Thần kinh trang điểm công phu, có khi lòe loẹt, dù là cao tuổi.
Xuân Diệu còn tả cách đi đứng của loài mèo, cùng giống với con hổ, lượn tấm thân như sóng cuộn nhịp nhàng, trong thơ Thế Lữ, mà ta có thể nói gọn là “yểu điệu”, mà ông Bùi Minh Đức cho là “đặc tính của xứ Huế” khi trích dẫn Nam Trân:
Thuyền nan đủng đỉnh sau hàng phượng
Cô gái Kim Luông yểu điệu chèo
Chèo đò mà cũng phải “yểu điệu”, thì phải là người Huế, dù ở đây, người điệu nhiều hơn là người yểu điệu. Nhớ thơ Nguyễn Bính mô tả thiếu nữ Huế:
Loanh quanh xóm vắng đường gần,
Ấy ai làm dáng phi tần với ai.
Con sông không rộng mà dài,
Con đò không chở những người chính chuyên.
                                                (Vài nét Huế, 1941)
Lại còn hai chữ đủng đỉnh. Trong bài Thương vay nói trên, Xuân Diệu có tả tầng lớp người nghèo chung quanh đế đô: “Đời quanh Huế cũng đủng đỉnh như đời giữa Huế, người nghèo ở đây không cực hẳn, không lam lũ, không khốn cùng”.
Sự thật thì Huế như bao nhiêu thành phố khác, cũng lắm người nghèo. Nhưng sống chốn đế đô, giấy rách giữ lấy lề, họ che giấu vẻ lam lũ dưới bề ngoài bao giờ cũng chỉnh tề, tươm tất.
Còn “đủng đỉnh” thật sự là cung cách của giới quan liêu, hay các mụ các mệ, con vua cháu chúa. Lá ngọc cành vàng.
Nguyễn Công Trứ đã có lần mô tả quan lại triều đình Huế:
Dù tía võng xanh văn đủng đỉnh
Gươm vàng thẻ bạc võ nghênh ngang
Cảnh quan trường phong kiến ấy từ lâu đã hạ màn. Không biết xứ sông Hương núi Ngự ngày nay còn ai nghênh ngang, còn ai đủng đỉnh nữa hay không.
*
Dùng từ Mèo Huế là ngoa ngữ. Mèo là súc vật độc lập tự do, lúc chán ở với người thì tự giải phóng làm mèo hoang, chịu tất tả, đói lạnh như Xuân Diệu đã mô tả kỹ và hay.
Trong một thời gian lịch sử dài, mèo ít lệ thuộc vào kỷ cương loài người; nhưng khi những tiến bộ khoa học, kỹ thuật cải tiến đời sống vật chất, thì con mèo cũng có thừa hưởng. Con mèo bầu bạn, nhiều sắc lông lộng lẫy ngày nay không còn là con mèo mướp bắt chuột mà Nguyễn Trãi đã mô tả. Nó biến đổi không phải do chính sách gia huấn, mà do con người lai giống, tạo ra giống mèo mới, như giống “mèo Bắc kỳ”, Tonkinois, ngày nay không can dự gì đến con mèo Nguyễn Trãi, mà lai giống từ mèo Xiêm với mèo Miến Điện, khoảng 1950 tại Mỹ. Gọi là Bắc kỳ cho có âm hưởng viễn đông và viễn xứ. Mai kia mốt nọ, trên thị trường mèo thế giới nếu có xuất hiện con “Mèo Huế” e cũng là mạo danh để khuyến mãi.
Bài này viết vui chơi ngày Tết, đã được nhiều bạn Huế góp ý và các họa sĩ Huế, trong và ngoài nước minh họa, tác giả chân thành và thân thiết cảm ơn. Có thể gọi là… Mèo giao lưu.
Cuối cùng cũng để mua vui, xin ra câu đối, đặc biệt cho người Huế vốn sính chữ nghĩa:
Tết Mèo, bấm chuột gửi meo mèo chuột.
Xuân Tân Mão, 2011
Chú thích:
(1) Bùi Minh Đức, Từ điển tiếng Huế, nxb Văn Học, 2004.
(2) Nguyễn Xuân Kính chủ biên: Ca dao người Việt, nxb Văn Hóa, 1995.
(3) Xuân Diệu, Phấn Thông Vàng, 1939, trích trang 16-19-83, theo nxb Thanh Niên, 1989. Có in lại trong Xuân Diệu, Tuyển Tập II, nxb Văn Học, 1987.
Nguồn: tapchisonghuong.com.vn

700 năm Thuận Hóa Phú Xuân Huế một “kho” tư liệu chưa từng có về triều Nguyễn và Huế xưa



700 năm Thuận Hóa Phú Xuân Huế một “kho” tư liệu chưa từng có về triều Nguyễn và Huế xưa

Festival Nghề truyền thống Huế 2009 sắp khai mạc, trên thị trường sách xuất hiện một cuốn sách “đồ sộ” 700 năm Thuận Hóa, Phú Xuân, Huế của nhà nghiên cứu Nguyễn Đắc Xuân do Nhà xuất bản Trẻ ấn hành. Sách dày 960 tr, khổ lớn 16cm x 24cm, bìa cứng, được minh họa với trên 700 ảnh, sơ đồ, bản đồ, tư liệu gốc màu và đen trắng. Có thể xem đây là một “tập đại thành” của nhà Huế học Nguyễn Đắc Xuân.



Từ trước đến nay, đã có hàng trăm công trình nghiên cứu, tập san, tạp chí chuyên đề về lịch sử văn hóa triều Nguyễn và Thuận Hóa Phú Xuân Huế nhưng chưa thấy có công trình nào của một tác giả rộng, lớn, và sâu như cuốn sách nầy.
Tuy tựa đề cuốn sách 700 năm Thuận Hóa - Phú Xuân - Huế nhưng nhiều đề tài liên quan đến Hà Nội, Thanh Hóa, Nghệ An qua Ngũ Quảng vô đến Bình Định, Phú Yên, Biên Hòa, Gia Định, Vũng Tàu, Đồng Tháp, Kiên Giang, Côn Đảo, được sắp xếp trong các mục: Địa lý, địa danh, Lịch sử sự kiện, Triều Nguyễn xưa , Văn hóa, giáo dục, Văn học nghệ thuật, Danh nhân. Các vấn đề được giải đáp từ những sự kiện “quốc gia đại sự” đến những việc nhỏ trong các gia đình, địa phương có liên quan đến lịch sử văn hóa triều Nguyễn Huế, không những chuyện xưa năm bảy trăm năm mà có cả những chuyện nay đang diễn ra và sẽ còn tiếp nối dài dài.
Tôi đã đọc 6 tập Hỏi đáp về triều Nguyễn và Huế xưa, đọc xong mỗi tập tôi lại mong chờ được đọc các tập tiếp theo. Đến khi đọc cuốn 700 năm THPXH , tôi thỏa mãn vô cùng, ngoài nội dung 6 tập Hỏi đáp đã được biên tập, cập nhật, bổ sung nhiều hình ảnh mới, còn có thêm vô số giải đáp mới hết sức cần thiết cho việc tìm hiểu lịch sử văn hóa Triều Nguyễn, Huế xưa và nay. Các giải đáp rải rác được tập trung trong từng chuyên đề tạo cảm giác như có 6 cuốn sách nhỏ trong một tập sách lớn. Ta có thể xem đây là một cuốn cẩm nang cho những người muốn gia nhập vào ngành Huế học, cẩm nang hiếm có cho các hướng dẫn viên du lịch và cũng là một kho tư liệu, một khối đề tài dành cho sinh viên, nghiên cứu sinh Đại học làm luận văn tốt nghiệp Đại học và trên Đại học.
Cuốn sách viết theo yêu cầu của độc giả, nên bên cạnh những vấn đề phổ thông có những vấn đề rất gay cấn, phức tạp, chuyên sâu.
Nhìn chung, ngoài một số giải đáp mà nhiều sách báo đã  đề cập, cuốn sách đã làm rõ những vấn đề lâu nay độc giả mới nghe nói lờ mờ, chung chung như: Hệ thống phòng thủ trên đỉnh đèo Hải Vân, Đàn Âm hồn, Lịch sử ra đời chùa Ba Đồn, lăng mộ Kỳ ngoại hầu Cường Để, Huế - nơi hình thành tư tưởng yêu nước của Chủ tịch HCM, chuyện “đào mã - vua Tự Đức- không Bài”, cuộc đời và sự nghiệp “phù thủy” thơ Hoài Nam Nguyễn Trọng Cẩn, khu biệt giam Chín Hầm của Ngô Đình Cẩn; lịch sử các công trình xây dựng thời Pháp thuộc trên đất Huế (Tòa Khâm sứ Huế, Bệnh viện Trung ương Huế, Trường Quốc Học Huế, chợ Đông Ba, cầu Trường Tiền, Khách sạn Morin, ga Huế, nhà máy nước Huế, v.v.);
- Cuốn sách đính chính nhiều sụ kiện lịch sử: Từ chuyện nhỏ trước điện Cần chánh không có hai dãy quan tượng bằng đá như cụ Phạm Khắc Hòe đã viết, đến chuyện lớn năm 1783 Nguyễn Ánh không ra Côn Đảo như lịch sử Côn Đảo đang giới thiệu với khách du lịch, vua Duy Tân bị thực dân Pháp trả về Réunion chứ không phải nhà vua về thăm nhà trước khi theo tướng De Gaulle đi VN cộng tác với Pháp như một số sách báo lâu nay đã đăng;
- Qua 700 năm THPXH nhiều bí ẩn được khám phá: Phủ Dương Xuân, Cung điện Đan Dương ở ấp Bình An, Lịch sử chùa Pháp Vân (chùa Khoai) - nơi xuất phát cuộc biến động năm 1866, Am Long thuyền bên phải Phu Văn Lâu, bức tranh thứ sáu trong Cung An Định là cảnh lăng Đồng Khánh, Nhà thờ Tây Linh làm trên đất Linh Hựu quán (nhà thờ Lão Tử thời Nguyễn).v.v.
- Cuốn sách tiếp tục cụ thể hóa những giá trị làm nên Trung tâm văn hóa lịch sử Huế: Nhã nhạc, các lễ hội, ẩm thực, nhiều nhà văn hóa trí thức tiêu biểu của Huế xưa và nay - Định Viễn Quận Công, họa sĩ Lê Văn Miến, Đạm Phương nữ sử, nhà buôn Viễn Đệ, bà Nguyễn Đình Chi, nhà thơ Nam Trân Nguyễn Học Sĩ, họa sĩ Tôn Thất Sa, họa sĩ Phạm Đăng Trí, nhạc sĩ Trịnh Công Sơn.v.v. Ngoài Nguyễn Phước tộc, lần đầu tiên có một cuốn sách đề cập đến mối quan hệ của nhiều gia đình, họ tộc “bá tánh” với văn hóa lịch sử như các họ Nguyễn Khoa, Thân Trọng, Hoàng Trọng, Trần Thanh....     
Phần đặc biệt của cuốn sách giới thiệu những nhân vật, những sự kiện, những di tích liên quan đến các phong trào đấu tranh yêu nước như Nhà sách Thuận Hóa - cơ quan bí mật của Xứ ủy Trung Kỳ, Nghĩa địa Phan Bội Châu, Bia Thanh tử Đạo, các nhà sư đã tự thiêu vì Đạo pháp và dân tộc như Thích Thanh Tuệ, Thích Tiêu Diêu, Thích Chơn Thể.v.v
Hoàn thành công trình nầy tác giả đã sử dụng một “kho” tư liệu thành văn Việt, Hán, Pháp, tư liệu điền dã trong nhiều năm, trên nhiều vùng đất nước. Độc đáo nhất là những tư liệu thành văn và tư liệu sống mà tác giả đã sưu tập được sau 5 lần đi Pháp và đi Mỹ. Những tư liệu đầu tay đặc biệt quý hiếm như Bản sao Quyết định của Bộ Thuộc địa Pháp mang số 7312/102, ký ngày 3-12-1945 trả Hoàng tử Vĩnh San về lại Réunion, Thư của Hiệu trưởng trường Quốc Học Chouquet gởi cho Khâm sứ Pháp viết sơ lược nhân thân Nguyễn Sinh Côn đề ngày 7-8-1908 (tư liệu thành văn đầu tiên về Chủ tịch Hồ Chí Minh sau nầy). Bên cạnh những tư liệu quý có rất nhiều ảnh lịch sử quý hiếm như các ảnh chân dung vua Hàm Nghi những năm bị lưu đày ở Alger, ảnh Công chúa Như Lý, ảnh Hậu Bổ, nhà và ảnh của mẹ con bà Jenny Woong (Hoàng Tiểu Lan, vợ người Trung Quốc của CH Bảo Đại) ở Đà Lạt, ảnh hai bà thứ phi Giai Triệu và Chí Lạc của vua Thành Thái.v.v.  
700 năm THPXH  là một cuốn sách quý, nhưng cơ chi có thêm phần phụ bản lịch sử biên niên 700 năm Thuận Hóa Phú Xuân Huế và một bản tra cứu sắp theo vần ABC nữa thì sáng giá vô cùng. Chúc mừng nhà nghiên cứu 73 tuổi Nguyễn Đắc Xuân với cuốn sách bổ ích cho đời nầy và con cháu mai sau.
Bến Ngự, 11-6-2009
Thanh Tùng (Báo Tiền Phong)