Nam Trân

Nam Trân

Thứ Tư, 10 tháng 7, 2013

Về Huế đọc thơ anh Tạo



Về Huế đọc thơ anh Tạo

Bùi Văn Kha

Khi anh Bằng Việt cử tôi vào nhóm đi Huế công tác, tôi buộc lòng tôi vào một ấp ủ từ lâu: Nguyễn Trọng Tạo!
Trên chuyến xe từ Hà Nội vô Huế cứ đầm ấm một Thanh Hoa với Làng quan họ quê tôi – “những năm bom Mỹ thả, loan phượng vẫn ăn xoài”, một Anh Thơ thiết tha Khúc hát sông quê – “sông còn nhớ chăng nơi ta ngồi ngóng mẹ, vời vợi tuổi thơ một xu bánh đa vừng”.
Hay quá là hay nhưng nhạc dẫu anh mà thơ Nguyễn Phan Hách – Lê Huy Mậu.
Tự nhủ năm 1995 được nghe một bài hát về dòng sông riêng Huế (của anh cả nhạc và thơ) do Thanh Hoa hát: “Sông Hương ơi sông Hương, sông trôi qua thời gian – người đặt tên sông cho người soi bóng” cảm vi vút Núi Ngự gợn nhịp sông Hương động cảnh động lòng. Chợt nhìn ra đã qua Quảng Trị. Và Huế đây rồi. Huế của thơ anh Tạo đây rồi.
Anh Phạm Xuân Nguyên cùng đi bảo sao lại phải về Huế mới thế. Thơ anh Tạo đọc ở đâu chả hay. Nhưng trong tôi vẫn bảo thủ rằng trên con đường Nam tiến Huế là điểm dừng chân của các Chúa Nguyễn xưa. Thơ ca nhạc họa hình như cũng vui lòng vậy. Cho nên, Nguyễn Trọng Tạo – người lính nghệ sỹ người xứ Nghệ “vượt Đèo Ngang tìm nơi cần” không phải chữ mà Thơ viết hoa – chính Huế.
Huế cơ mà. Huế đã có Nguyễn Du với Thu cảm, Cao Bá Quát với “Hương giang như thanh kiếm lập thanh thiên”; Phan Bội Châu “Vắng mặt sông Hương suốt mấy trăng/ đuổi xong ma bệnh rước tin mừng”; Văn Cao “Một đêm đàn lạnh trên sông Huế”; Nguyễn Bính “ở Ngự Viên mà nhớ Ngự Viên” và “có về Chiêm quốc như Huyền Trân” để “lăng lắc đường xa nhớ cố nhân”…
Nhắc như thế để nói rằng muốn có được tập thơ Đồng dao cho người lớn, trọn Thập kỷ 80 sang 90, anh Tạo phải Huế đã. Cái anh cần là một chút vốn văn chương trên vai, một bóng tím trong lòng anh riêng Huế. Nhà thơ của chúng ta gặp xứ mộng mơ bằng Con đường của những vì sao.
Trường ca Đồng Lộc hay Con đường của những vì sao viết năm 1978: “Tuổi trẻ của tôi/ mười tám, đôi mươi/ trong và tinh khiết như nước suối đá/ Khỏe và mơn mởn như mầm lá/ rộng và dài như mơ ước yêu thương/ vươn lên và bền vững như con đường/ gắn vào đất, tạc vào mặt đất” – “Cô gái áo nâu vai tròn gió thổi/ Ngực căng đầy hồi hộp ánh trăng/ tóc chàng trai dính chút bùn non/ sau buổi cày bừa đồng chiêm vội vã” – “Trên thảm cỏ xanh trăng trải lụa vàng/ họ ngồi xuống như không về nhà nữa/ họ ngồi xuống như quên sương gió/ – ngày mai/ ngày mai mỗi người mỗi ngả/ đi vào cuộc chiến tranh!”.
Đoạn đặc tả này cho ta thấy người Việt ta an bình trong lãng mạn sử thi. Họ có nhà đấy. Họ nhập cuộc từ phía huyền cảm. Họ đẹp.
Trên đường thiên lý Bắc Nam, Đồng Lộc, như bài phú của Vũ Khiêu trong Đài Tưởng niệm 10 cô thanh niên xung phong trụ đường huyết mạch thông xe ngày đêm tiếp tế cho tiền tuyến. Trong trường ca Nguyễn Trọng Tạo, hiện thực được khắc họa: “Ấy là năm/ cả dân tộc mình mặc áo cỏ xanh/ mặc tự nguyện, mặc không lựa chọn/ những lứa đôi ở hai đầu tiếng súng/chỉ mình hiểu lòng mình ngày tháng đợi chờ nhau”.
Ta hãy theo dõi một nhân vật văn học: “La rùng mình cắn vai Mùa đau nhói/ nước mắt vui hay nước mắt buồn/ ôi có những điều mong ước giản đơn/ nói ra thành yêu thương/ nói ra thành sợ hãi” – họ là người bình thường. “rất có thể một người không trở lại/ máu chan hòa mặt đất quê hương/ máu chan hòa dưới thảm cỏ xanh non/ tốt tươi đất đai, tốt tươi Tổ quốc/ sống hết lòng mình, chết đời cao đẹp/ những con người như thế, mãi gần nhau!”
Và một địa điểm cụ thể: “La đến đây/ nơi ngã ba trụi trần đất đỏ/ ngã ba nắng, ngã ba gió/ ngã ba đất, ngã ba trời/ ngã ba xe, ngã ba người/ ngã ba bom đạn/ cây muỗm chạc ba ngã xuống/ nhập vào ngã ba tro than/ gốc bám phía nam/ cành vươn phía bắc/ lá nhập vào màu áo đoàn quân/ dưới ánh sáng mặt trời/ ánh sáng trái tim người/ cuộc quang hợp màu xanh…”
Chất liệu sử thi nhuần với giọng điệu anh hùng ca nói về những con người tưởng chừng nhỏ bé không được đào tạo theo một khuôn ước thi đua nào, nhưng cái khí chất Phù Đổng của sự hi sinh cao cả ấy khiến loài người kính phục.
Cũng là muốn nói trước việc Nguyễn Trọng Tạo lúc này cảm hứng và thi pháp chủ đạo vẫn là truyền thống cách mạng – chủ nghĩa anh hùng tập thể – trách nhiệm cái chung.
Khoảng đầu những năm 1980, từ Đồng Lộc theo Con đường của những vì sao nhà thơ người lính còn trẻ vào Huế với một hành trang Nghệ Tĩnh – Nghệ sĩ nhập vào hồn cốt Huế hòa vào em người con gái Huế mà dựng lâu đài văn chương.
Xứ Huế cổ xưa thật xưa của Nam Trân, Hàn Mặc Tử, Tố Hữu, Bùi Giáng qua Trịnh Công Sơn, Hoàng Phủ Ngọc Tường, Nguyễn Khoa Điềm, Hà Khánh Linh, Lâm Thị Mỹ Dạ,… một hồi “con sông dùng dằng con sông không chảy” – Thu Bồn, rồi gửi mình vào Điềm Phùng Thị, Lê Bá Đảng nơi họa, An Thuyên, Trương Tuyết Mai nơi nhạc và…
Và Nguyễn Trọng Tạo nơi thơ.
Đúng là ở Huế tâm hồn nghệ sĩ Nguyễn Trọng Tạo gặp cái “Đẹp và Thơ” của “…núi Ngự bên bờ sông Hương” mà thành “Sông Hương hóa rượu ta đến uống/ Ta tỉnh. Đền đài ngả nghiêng say”. Mặc kệ có người nói đã có ý này từ trước. Nhưng Lưu Trọng Lư với Tiếng Thu vẫn chỉ có thể là kiệt tác Việt Nam. Lấy cái tinh túy nhất của ẩm thực mượn sông Hương mà nói cái đam mê của người nghệ sĩ câu trên, chuyển thành hai trạng thái: Ta tỉnh – là sự khác biệt của tửu đồ Tản Đà, Nguyễn Vỹ, xa hơn là Nguyễn Khuyến, xa nữa Lưu Linh. Nhưng đền đài ngả nghiêng say. Tách đền đài là thi liệu, ngả nghiêng say là tính linh – cả câu là vật linh giáo rồi. Thì ra có hai câu thơ mà cả một khởi thủy bái vật tô tem, sâu chưa!
Cách xử lý thiên nhiên này là gợi mới cho một quan niệm thơ: Gọn, nhập cuộc quyết liệt, suy tư trách nhiệm. “có cả đất trời mà không nhà ở/ có vui nho nhỏ có buồn mênh mông/ mà thuyền vẫn sông mà xanh vẫn cỏ/ mà đời vẫn say mà hồn vẫn gió/ có thương có nhớ có khóc có cười/ có cái chớp mắt đã nghìn năm trôi” (Đồng dao cho người lớn).
Hình ảnh và ý niệm quyện nhau tạo nên câu thơ hình tượng. Từ những nhận xét về cánh rừng chết con người sống, câu hỏi câu trả lời, ông trăng tròn đặt phản đề chính đề trong cùng một câu thơ,… nhà thơ nói về một số phận chung cho kiếp thi nhân lãng tử – vận vận vào thân mình. Anh viết tưởng cho người mà lại chính niệm huệ định lực riêng anh. Đây là những phản tư đi trước của những “khúc ca trẻ con vấn đề người lớn” – bình minh nào mà chẳng ban đầu hé nụ. Nếu nhìn nhận lại từ thuần khiết ấu thơ sẽ giảm phức tạp cho nhau.
Chừng mực vây kín. Muốn mới nhưng xung quang loạn chuẩn.
Mà tạo dụng kiểu gì cũng phải từ lòng tin: “nhưng tôi người cầm bút than ôi/ không thể không tin gì mà viết/ tin thì tin không tin thì thôi!” – (Tin thì tin không tin thì thôi).
Phân vân như cánh cò Xuân Diệu:
“còn Rốck Rap hay còn đêm cổ điển/ điên cuồng ơi mơ mộng bỏ tôi rồi” – (Đêm cổ điển).
Quá đủ hiện thực người nên tìm về một góc Liêu Trai:
“Đêm cộng cảm:…múa hát với ma đêm nay ăn uống với ma đêm nay ngủ với ma đêm nay/ ngày mai vĩnh viễn chia tay/ nhà ta đã làm cho ma trâu ta đã giết cho ma ngày mai gạo ta sẽ rắc, ngày mai gà con ta sẽ thả/ ngày mai chỉ còn bên ma những tượng mồ/ đêm ái ân lần cuối/ đêm cộng cảm sáo đàn cồng chiêng trống cái/ lục lạc rung dây chuỗi tiếng hú dài”.
Thế mà có được đâu.
“Cầm lòng sao cứ vân vi/ mây thì nặng trĩu núi thì nhẹ tênh” – (Cầm lòng)
Bài Thời Gian 2: “từng giọt thời gian ngưng thành mai vàng/ tích tắc nhịp tim sao ta bàng hoàng/ôi xuân đã sang mà người chẳng tới/ từng hạt thời gian gieo vàng mong đợi/ mùa xuân mời cưới lấy ai đi cùng/ ta đi một mình thời gian mông lung/ nay còn trẻ trung mai đà tóc bạc/ từng giọt thời gian ứa tràn khóe mắt/ thôi người đừng khóc rụng rơi bông vàng/ buồn vui làm ngọc kết thành thời gian…” vẫn một tự sự buồn nhưng có hậu.
Bài Có Khi: “có khi nắng chết trong màu lá/ mẹ nhặt về nhen ngọn lửa chiều/ có khi mưa chết trong đất khát/ em gặp mùa hoa tặng người yêu/có khi bài hát xa xưa quá/ bỗng đến bất ngờ an ủi ta/ và em thuở ấy đi biệt xứ/ sao lại về đây lấp lánh. Và/ mưa trắng đường mưa nắng ngất ngư/ ai đem lụa trải tận xa mờ/ có khi người chết nghìn năm trước/ hồn vẫn bồng bềnh trong giấc mơ.” Bài này viết bên mộ Hàn Mạc Tử nay vào trong xưa, xưa mực thước nay dìu nhau mà buồn.
Bài Lưu Lạc: “Lạc vào kinh kệ/ u mê chiều tà/lạc vào quyền chức/ kiếp nào gỡ ra/ con đường thì xa/ chỉ tay mạng nhện/ ta lạc ngoài ta/ đi hoài không đến/ một băng nhạc sến/ ướt chùng chiều mưa/có một gã thừa/ lạc vào nhăng nhố/ ngác ngơ giữa phố/ một thằng nhà quê/ nhớ thương mộ Tổ/ biết bao giờ về…” nhịp điệu gọn gàng như một bài Rap tự tin thương cảm.
Bài Son nê buồn: “Xin gọi tên em là buồn/ Buồn ơi buồn hỡi ngọn nguồn Buồn đâu/ Buồn mồ côi đã từ lâu/ đời ta rồi cũng bạc đầu vì thương/ là khi tỉnh giấc trong đêm/ một mình ta thấy ngồi bên: Nỗi Buồn/ là khi cạn một ly tràn/đáy ly ta lại thấy làn mi xanh/ mi xanh Buồn cứ long lanh/ gặp long lanh thấy mong manh là buồn/ buồn đừng đi! Buồn đừng tan!/ mất Buồn còn lại tro tàn mà thôi/ Buồn ơi Buồn có thương tôi/ đừng làm tôi phải mồ côi Nỗi Buồn!…” đúng là người mẹ. Sau Tản Đà tiền chiến phải đến Nguyễn Trọng Tạo nỗi buồn mới trọn vẹn trong sinh nở của ngọn nguồn sáng tạo.
Bài Chia: “chia cho em một đời tôi/ một cay đắng một niềm vui một buồn/ tôi còn cái xác không hồn/ cái chai không rượu tôi còn vỏ chai/ chia cho em một đời say/ một cây si với một cây bồ đề/ tôi còn đâu nữa đam mê/ trời chang chang nắng tôi về héo khô/ chia cho em một đời thơ/ một lênh đênh một dại khờ một tôi/ chỉ còn cỏ mọc bên trời/ một bông hoa nhỏ lặng rơi mưa dầm” thực ra khinh bạc mà khiêm cung.
Giá trị thơ lục bát của Nguyễn Trọng Tạo chính là ở sự chân thành của cảm xúc. Anh đi đến tột cùng của cảm hứng trước cảnh, trước tình. Giai đoạn này đất nước đang chuyển mình Đổi mới. Trách nhiệm của người nghệ sĩ chân chính là phải lao vào thế sự, làm tròn tư cách công dân và hơn thế nữa. Đây là Thời kỳ nói thẳng, nói thật. Nhưng nói ở giác độ nào mới quan trọng. Nguyễn Trọng Tạo đứng ở vị trí văn chương mà chia sẻ, cộng cảm kể cả cái còn và cái mất. cái được và cái không trong khoảng mười năm.
Đặc điểm của thơ Nguyễn Trọng Tạo lúc này là Trữ tình, Thế sự. Anh sáng tác theo bút pháp chủ nghĩa hiện đại nghiêng về cách tân nhưng duy mỹ truyền thống. Đấy là nét sang trọng nhưng thức thời mà lại nhiều cuốn hút trong thơ anh. Tự tin mà nói rằng anh là một trong những đại biểu xuất sắc của thơ Việt Nam cuối thế kỷ 20.
Bởi vì: “Khi tình cảm của ta bị xúc động, thì lời nói xuất hiện; Khi cái lẽ đương nhiên đã phát hiện được thì văn hiện ra. Đó là cái việc từ chỗ ẩn (tình cảm, lí là hai cái kín) đi ra đến chỗ sáng rõ (ngôn ngữ, văn), nhờ bên trong mà phù hợp với bên ngoài vậy. Nhưng tài năng mỗi người mỗi khác: Có người tầm thường, có người ưu tú. Khí lực có người cứng rắn, có kẻ mềm yếu. Sức học có người nông cạn, có kẻ sâu xa. Lối sống có người trang nhã, có kẻ dâm dật (Trịnh, Trịnh là nước có phong tục dâm dật). Người ta do chỗ tình cảm và bản tính đào luyện, do sự giáo dục và ảnh hưởng bên ngoài (nhiễm là nhuộm) tích lũy lại mà lời văn và sáng tác mỗi người mỗi khác. Cho nên lời văn và lí lẽ tầm thường hay ưu tú, không ai có thể đổi cái tài của mình” – (Lưu Hiệp – Văn Tâm Điêu Long, bản dịch của Phan Ngọc).
Cách nay gần 10 năm, tôi tâm đắc với bài “Những Nghệ nhân ở Huế” nói về Nguyễn Trọng Tạo, Nguyễn Khắc Phê, Nguyễn Khắc Thạch trần lưng cùng văn nghệ sĩ Bình Trị Thiên làm Sông Hương mà cùng người Huế giữ lại cái thực hư riêng Kinh đô Huế.
Lại xa hơn, khoảng 20 năm trước, anh Tạo ra Thủ đô có 2 việc: Làm việc với Hội Nhạc sĩ Việt Nam và nhà xuất bản Âm nhạc để xuất bản băng cát xét “Tình khúc bốn mùa” có Thanh Hoa hát, và đến báo Văn Nghệ bàn với nhà thơ Hữu Thỉnh ra một phụ san chuyên thơ. Năm 1995 băng “Tình khúc bốn mùa” phát hành thì gần mười năm sau báo Thơ ra mắt. Thời gian ấy anh đã ra Hà Nội định cư, làm thơ, làm nhạc, làm họa, làm báo và làm bơ vơ…
Ra Hà Nội, anh nổi tiếng lắm rồi: Nhạc sĩ (nhạc say) – Nhà thơ (thơ hay) – Họa sĩ (họa bay) như lời giới thiệu của anh Nguyễn Thụy Kha khi xuất bản băng “Tình khúc bốn mùa” và chỉ vậy thôi, ôi thời ở Huế.
Phải chăng ở đây không dung được cái thân “song Nghệ” – Trong anh Nghệ Tĩnh ngoan cường mà cô độc – Nghệ sĩ đa tài nhưng đa đoan. Anh đầy Hà Nội nhưng vẫn thiêu thiếu một cái gì, hình như một chút hào hoa trưởng giả sung vào lãng tử cập thời. Một chút “…dương cầm trong căn phòng nhỏ”; một chút “…lang thang hoài trên phố”; một chút – thôi…thôi…
Không, có lẽ cái lãng tử trong anh không chứa nổi cái ô cuộc sống công chức. Hay rời Huế anh vơi đi động lực thăng hoa. Với anh , Huế là một khẳng định.
Nhưng anh đã thêm một duyên nợ với Hà Nội rồi.
Ước gì có một cú hích từ “làn mi xanh” – Anh Tạo không phải “mồ côi Nỗi Buồn”…
Viết bên sông Hương, 6/2013

Thứ Hai, 8 tháng 7, 2013

Tên những nàng con gái Huế một thuở nào



Tên những nàng con gái Huế một thuở nào

Bs Lê Văn Lân

Tên những nàng con gái Huế một thuở nào! Đề tài này tôi đoan chắc không thiếu gì người hồi hộp nôn nóng muốn coi vì nó đầy chất thơ mộng, khêu gợi lại một thuở hoa niên. Nói đâu xa, xin chỉ gọi là khai mào nhè nhẹ thôi thì anh bạn cùng lớp thời 45 - 52 với tôi đã để hồn thơ lai láng của mình tuôn chảy trong một bài nhắc đến tám nàng bạn gái cùng lớp như sau:
Thần kinh vui đón tiết XUÂN AN
HƯƠNG THẢO bâng khuâng quyện lá vàng!
Gió thổi LÊ rơi đầy thạch động
Mây đùn lệ nhỏ ngút THIÊN HƯƠNG.
THANH HÀ một giải chia đôi ngã
THU CÚC mười bông đã chín tàn!
Mũi chỉ đường KIM CHI phải bận
CẨM HÀ một bức hóa công ban.
Té ra chàng trai trắng trẻo Quốc học Khải định này cũng như tôi đã một thuở ốt dột từng “bụi hồng lẽo đẽo đi về chiêm bao” theo những hình bóng nhiều o trong đó có một o hình như tên lót chữ Phương chi đó đã chịu về nâng khăn sửa túi cho chàng và làm thân cò vất vả lo lắng thăm nuôi chàng trong nhiều năm bị cải tạo! Ta hãy đọc lại lời thơ tha thiết của chàng trong cái thuở chàng đã lẽo đẽo theo o:
 Ta nhớ kinh kỳ ngày đầu thu năm ấy
Đường Lê Thái tổ rải hoa nắng lung linh
Bím tóc đong đưa xuôi bờ vai nhún nhẩy
Theo bước chân em, lòng ta rợn ngập men!
Hoặc giả một tiếng thơ khác là Trần Thương Bá đã nhắc đến vài o bạn gái như Ngọc Túy, Ngọc Trinh, Ngọc Cầm, Hoàng Lan qua những kỷ niệm sau:
 Dăm ba áo trắng, đò Thừa phủ,
Nón lá ngang vai, gió hửng hờ
Sóng vỗ mạn thuyền ru giấc ngủ
Trống trường Đồng Khánh tỉnh cơn mơ
Rợp đường long não gót ai qua
Tiếng guốc âm vang ôi thiết tha.
Là lúc sầu đông bừng hoa tím
Một mùa đông nữa đã trôi xa
Vừa rồi, tôi lại có cơ duyên biết một chuyện vui ngày xưa về tên của hai bậc phụ nữ thuộc lớp trưởng thượng mà tôi mạn phép kể ra đây: đó là hai cụ bà Công tằng Tôn nữ Tuyết Lê (phu nhân của cố G/s y khoa Phạm biểu Tâm) và C.T.T.N Anh Lạc (thân mẫu của B/s Lê đình Thương); thuở con gái, hai cụ thường hay đi học và đi chơi chung không rời nhau một bước khiến nhiều chàng trai - nay đã thành những cụ ông đã ăn thượng thọ bát tuần từ khuya rồi! - không dám theo đuổi sát tán tỉnh mà chỉ bóng gió đứng xa xa ngâm bài thơ tựa đề là “ Le Lac”  (Lê Lạc!) của thi sĩ lãng mạn Lamartine của Pháp!
Nói theo tiêu chuẩn khảo cứu, chuyên đề nghiên cứu về” Tên những nàng con gái xứ Huế” chính là một đề tài văn hóa lớn, đòi hỏi tối thiểu một sự thống kê, điều tra, khảo sát, so sánh đầy nghiêm túc và khoa học hẳn hoi. Ví dụ như ít ra phải dựa vào sự thống kê từ những sổ bộ đời (vital statistics) tùy theo địa phương (dưới quê hay trên dinh) trong một thời điểm nào (thời cựu triều, Pháp thuộc, tiền hay hậu chiến), điều tra về thành phần giai tầng xã hội (hoàng phái, quan lại Nam triều, công chức tòa sứ, giáo chức, buôn bán hay công nhân), trình độ giáo dục (cựu khoa bảng hay Tây học, hay bình dân giáo dục), tôn giáo (Phật tử hay ki tô hữu)… Chao ôi là bắt bộn thứ phải làm!
Chính vì rứa mà trong khuôn khổ một bài bút khảo đầy tính chất tài tử tùy hứng này, kẻ hèn tôi chỉ xin giới hạn trên những dữ kiện thu hẹp về tên những người phụ nữ đã từng ở Huế mà tôi đã có cơ duyên nghe, hay quen biết xa gần hay góp nhặt lang bang từ những tuyển tập hay đặc san về xứ Huế trong một thuở nào trong giới học sinh.
Tôi không dám nói thế nào là “gốc Huế chay” bẩy mươi hai phần dầu mà chỉ nói là những vị “phụ nữ từng ở Huế” một thời gian đủ để làm “dân Huế” có “Huế tính” vì tôi nghĩ thế nào cũng có người hỏi vặn tôi có chắc những tên kê ra trên là những tên của những phụ nữ chính gốc bản địa Huế không? Nói của đáng tội, thiệt khó cho tôi mà trả lời! không lẽ tôi lại nói đến những nàng Chiêm thành của châu Ô châu Rí thuở Huyền Trân công chúa mà chỉ đành nói là những cái tên mà tôi từng chính tai nghe ở Huế thời thơ ấu của những bà hay những cô thuộc lớp trước tôi, ngang tôi hay sau tôi.
Lấy gốc gác địa dư mà nói, ngay cả mấy công chúa, mấy bà Tôn nữ của nhà Nguyễn thì gốc phát xuất từ làng Gia Miêu Ngoại Trang, huyện Tống sơn, tỉnh Thanh Hóa hoặc giả như mấy nàng giòng Nguyễn-khoa thường có lót chữ Diệu thì tổ quán ở làng Trạm Bạc, tỉnh Hải Dương.
Nói xa xưa thì mấy nàng gái Huế dưới Bao vinh một chút thuộc họ Trần tiễn… chính là gốc Tầu thời Minh! Huyện Tống sơn Thanh hóa quê của nhà Nguyễn chính là gốc Trung hoa đời Nam Tống trôi dạt tỵ nạn qua đảo Macao Áo môn rồi qua Thanh hóa, đặc biệt có họ Tống phước nghe quen ở Huế. Lục theo hoàng phả, ngọc phả của phủ Tôn nhơn, ta thấy cả thẩy 8 phụ nữ gốc miềm Nam kỳ tiến cung làm phi tần và hoàng hậu, hay mấy công chúa hạ giá với các phò mã gốc ở tỉnh khác. Trường hợp bà Từ dũ là mẹ của vua Tự đức người Gò công quá rõ, còn mẹ của gia đình gồm 4 thi sĩ trứ danh xứ Huế: Tùng thiện vương và 3 công chúa Qui đức, Mai Am và Huệ phổ là bà Thục tần Nguyễn thị Bảo người Gia định. Ở miệt trên Kim luông, có làng Nam Trung là làng của dân Nam từ Bến nghé, Đồng nai ra ở Huế nhiều đời như cố giáo sư y khoa Phạm biểu Tâm vừa tạ thế và cũng kể luôn trong đó có bà Nguyễn hữu thị Lan gốc Gò công là dân làng danh dự mà học giả Phạm Quỳnh chọn dâng lên cái tên Nam Phương hoàng hậu cho hoàng đế Bảo đại.
Còn theo tiêu chuẩn thời gian sinh sống thiệt gần thì lấy trường hợp của hai cô em của tôi là Thiên Úy và Minh Mỹ, cha mẹ mới từ Bắc vô Huế lập nghiệp mới mẻ một đời thì khi nghe nói tiếng Huế đặc sệt và cách ăn mặc của hai cô đã “ Huế hóa” một cách sâu đậm qua sự đi học hay chơi bè bạn trong tuổi ấu thơ khó mà ai biết cha mẹ họ là dân Bắc kỳ chính hiệu. Trường hợp gia đình tôi cũng giống vài gia đình Bắc ở Huế như các chị B/s Bích Tuyết, Kim Hồng, anh bạn Ngô đình Long hay Âu ngọc Trác hay chị Bùi Bích Hà… Thành thử ra theo tiêu chuẩn lấy tổ quán và thời gian lập nghiệp ngụ cư khó mà định nghĩa cái “ Huế tính”. Cái Huế tính theo tôi là cái mẫu số chung về cung cách ở ăn, sinh hoạt của những người gốc bản địa nhiều đời đã đành mà còn bao gồm những dân ngụ cư tự nguyện có thái độ chấp nhận “ làm dân Huế mình” một cách ngon ơ, ăn bún bò, cơm hến, bánh bột lọc, bánh nậm chấm nước mắm dầm ớt tươi hườm hườm rồi hít hà, xuýt xoa không ốt dột hay cảm thấy ngụy tặc chút mô cả rồi trầm trầm nói: “răng mà ngon rứa thê!”
Một đặc thù mà tôi chú trọng để đề cập trong bài bút khảo này là khuynh hướng cha me ở Huế thường đặt tên cho những con gái là đa số dùng tên đôi, tên kép gồm hai chữ ghép lại ở Huế phải chăng đã nhiều hơn các nơi khác ở Việt nam? Ví dụ điển hình cụ thể là lấy hình chụp của các bà học sinh lớp đệ nhất niên Đồng Khánh 1936 – 1937 đăng trong tập san Tiếng Sông Hương 1988 của anh luật sư Lê chí Thảo thì có tổng cọng 30 người (gồm bà giáo Rérat và 29 nữ học sinh) thì tôi chọn ra được 16 tên kép nghĩa là 55% đứt đuôi nòng nọc rồi như: Thu Cúc, Đào Nguyên, Vân Huyền, Xuân Diễn, Túy Nhạn, Tố Tâm, Phương Lan, Diệm Nga, Thoại Ba, Cẩm Lai, Kim Phụng, Thánh Tín, Tâm Thành, Diệm Song, Phú Xuân, Phương Thảo; kỳ dư là 13 tên chiếc một chữ như Tùng, Hựu, Đỏ, Cam, Hy, Sung, Oai, Phú, Tảng, Ngà, Du, Hường, Trai. Một ví dụ khác dựa vào Tuyển Tập nhóm Phượng vỹ “Kỷ niệm 80 năm trường Đồng Khánh”, trên hình ảnh của 11 vị Hiệu trưởng của trường này từ 1945 - 1975, tôi thấy 6 vị có tên đôi là Đào T. Xuân Yến, Đặng Tống Tịnh Nhơn, Tôn nữ Thanh Cầm, Thân thị Giáng Châu, Lê thị Tường Loan, Phan thị Bích Đào, nghĩa là cũng 55% chớ bộ giỡn sao. Còn trong 52 hình ảnh của những vị nữ giáo sư Đồng khánh trong cùng một thời gian, tôi điểm ra được 40 vị sau có tên đôi: Diệu Liễu, Hoa Diên, Nhân Đức, Giáng Châu, Hỷ Khương, Như Kha, Từ Nguyên, Thanh Tâm, Đạp Thanh, Kim Chi, Quỳnh Diêu, Khánh Tịnh, Như Lê, Vân Trà, Ngọc Thạch, Kim Anh, Mỹ Trang, A Trang, Phạm thị Hoàng Oanh, Nguyễn thị Hoàng Oanh, Quế Hương, Mộng Hà, Thu Cúc, Ngọc Khuê, Bách Diệp, Tiểu Bích, Như Quý, Thúy Nga, Ngọc Mỹ, Phương Chi, Tuyết Mai, Bạch Tuyết, Tuyết Anh, Thanh Thu, Quỳnh Chi, P.N. Đông Hải, Mộng Hoàn, Marybeth Thanh Mai, Thanh Ngọc, Chi Điền, Bạch Hạc. 40/ 52 là tròm trèm 77%, thật là một vườn hoa của những mỹ danh đôi.
Một đặc thù cần nêu ra khác nữa là tên đôi con gái Huế đặt ít khi trùng hợp với những tên đôi thông dụng quen nghe ở những nơi ngoài Bắc hay trong Nam, ví dụ trong bài Vùng Kỷ niệm của bà Hạnh Nhơn trong tập san Quốc học & Đồng Khánh Nam California 1999, tôi nhặt ra những tên: Nhân Lý, Kiều Miên, Lan Huê, Diên Hy, Tiên Nhạn, Như Miên, Bích Sen, Việt Thường; trong bài Nhớ hoài ngàn năm của Công tằng Tôn nữ Tri Túc, tôi cũng lượm ra hai tên ít nghe là Phạm thị Thứ Vọng, Trần thị Hà Long, Tôn nữ Cẩm Bàn. Riêng cá nhân tôi, thử vận dụng trí nhớ, tôi cũng moi ra bộn bề biết bao là những cái tên đôi đặc biệt, chẳng hạn như Mộng Thu, Đạm Phương, Nhân đức, Tuyết Lê, Anh Lạc, Mộng Nhiên, Túy Thiện, Thương Túy, Thanh Lô, Thanh Hoài, Hồng Vinh, Trà Mi, Diệm Mi, Nga Mi, Dã Thảo, Miên Hoa, Như Ngộ, Diệu Hồi, Diệu Phước, Diệu Sâm, Diệu Hạnh, Diệu Điền, Diệu Cầm, Kim Soa, Thu Sương, Thiều Anh, Lạc Nhân, Hồng Tuyến, Dạ Khê, Lai Hồng, Bạch Trĩ, Tâm Thường, Khánh Trợ, Phùng Mai, Bội Lan, Bội Ngọc, TN Thượng Khanh … Ít khi trong Nam ngoài Bắc, có những tên tương tự, đúng không nà, bà con mình hỉ?
Trước hết, nói chung về cái tên con gái đàn bà Việt nam, thì đã kể từ đầu thế kỷ này, ta đã giảm dần tục trọng nam khinh nữ không còn như sử sách xưa chép về những danh nhân chỉ nói mẹ là người thuộc họ Bùi (Bùi thị), hay vợ là người thuộc họ Nguyễn (Nguyễn thị), kê họ ra mà không bao giờ nói rõ tên. Đã qua lâu rồi cái thời mà trên giấy tờ hay văn kiện, phái nữ bị gọi xách mé chung là “ y thị”, do đó phải chăng hiện nay cái chữ “ thị” có khuynh hướng bị cắt đi như là một tàn tích cổ hủ vậy vì nó vô tình bị đàm tiếu là “thị mẹt”! Phái nữ Việt Nam bắt đầu có tính cách pháp nhân trong xã hội giống phái nam ngày xưa có tên ghi vào sổ đinh để thi hành nghĩa vụ với làng nước.
Tôi nghĩ trước đây ở Huế cũng giống như các nơi khác, khi con gái còn bé mặc quần xẻ đũng vì còn đái mế, trong gia đình, họ vẫn có thể mang những tên tục, xấu hái như hĩm, hến, gái, cũn, lọ, vá, tẹt, tôm, tép… của lớp người bình dân quê mùa hay những tên thông tục nôm na thân mật dễ thương “gọi chơi “ở nhà: ví dụ theo thứ tự sanh ra thì Chút chị, Chút em, Chút xí; hoặc theo nghề nghiệp gia truyền như tấm, cám, hẻo, the, lụa, lượt, là… (tên hai bà Trưng Trắc, Trưng Nhì vì sanh ở làng chuyên nghề tằm tơ quen gọi “kén chắc, kén nhì”); hoặc giả đặt tên dính liền với một kỷ niệm nào đó (ví dụ như tên “Út chòi” mà một vị hưu quan đặt cho con gái út mà vợ ông mắc rặn đẻ khi ông vừa ăn một ván bài chòi ngon lành vào ngày Tết). Các vua nhà Nguyễn khi còn bé cũng có tên gọi chơi như Mệ Tríu (Dục Đức), Mệ Mến (Hiệp Hòa), Mệ Vững (Bảo Đại), và bà Từ cung húy là Hoàng thị Cúc nhưng tên tục là Khế hồi nhỏ ở Mỹ lợi nên sau này trong Nội gọi cữ trái khế là “trái khến”. Nhưng thông thường, khi mà các con gái đến tuổi đi học, cha mẹ ở tỉnh thành cũng thường đặt cho những tên nếu không hay ho thì ít ra cũng nghe được, tùy theo trình độ văn hóa gia đình. Có nhiều lối đặt tên ví dụ như có vần miệng hay tiếp ý nghĩa với tên cha mẹ hay anh chị em như mẹ tên Lê, con có thể là Đào, Lựu, hay Lý; chị Bưởi thì em Bòng. Hoặc là đặt tên theo bộ sậu của các anh chị em theo thứ tự năm sanh với tên 12 con giáp, hoặc theo những điều chúc phúc Phúc, Lộc, Thọ, Khang, Ninh; hay theo tên thảo mộc quí như Tùng, Bách, Trúc, Mai, Quế, Hòe, Cúc, Liên; các tên chim như Phượng, Yến, Nhạn, Thước hay tên các thứ quí kim, bảo ngọc như Kim, Ngân, Ngọc, Quỳnh, Dao, Bích…
Một điều tôi xin thưa rõ ràng là tôi nghĩ mọi người đều đồng ý rằng không nhất thiết chỉ có tên đôi, tên kép mới có ý nghĩa và đẹp, mà những cái tên đơn cũng ý nghĩa và đẹp không kém, ngoài ra chúng lại mang một ý nghĩa gọn gàng, tiêu biểu dứt khoát, khẳng định nữa, vì cũng có một số người cho rằng những tên đôi dài lê thê, chung qui là vấn đề sở thích.
Tôi thiết nghĩ cũng nhiều người muốn đặt tên con để chuyên chở một ý nghĩa cao đẹp, tao nhã nhưng lại thận trọng, khiêm tốn và dè dặt sợ rằng con mình không đủ tư cách đáp lại điều mơ ước của mình khiến thiên hạ đàm tiếu. Hoặc giả họ cũng nơm nớp kiêng cữ những cái tên “hoa nguyệt” hoặc những tên quá diễm tuyệt, sắc sảo, hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh sợ rằng nó vận vào số mệnh “hồng nhan đa truân”. Đương nhiên, cũng có người ít học mới giàu nổi nhưng học làm sang không cần hiểu ý nghĩa thâm thúy của chữ nghĩa mà chỉ cốt kiếm cái cầu kỳ về âm thanh du dương hài hòa của những cái tên hay đẹp nhưng rỗng tuếch, nghĩ cũng thật thương hại cho cái thói rởm trong đời.
Chọn những tên đơn một chữ đã khó thay, huống hồ chi chọn những tên kép, tên đôi. Ngoài Bắc trong Nam, - nhất là cái xứ Bắc hà ngàn năm văn vật – nói nào ngay cũng không thiếu gì phụ nữ mang tên đôi tên kép mỹ miều, ý nghĩa, dựa vào điển tích Nho học sâu xa, nhưng tôi chỉ xin nói đến những tên nghe được ở Thừa thiên – Huế thôi.
Trong bút khảo này, tôi chỉ nêu ra những tên con gái Huế theo giấy tờ khai sinh chứ không nói đến những tên, hay bút hiệu, bút danh mà vài cô, bà tự chọn về sau khi ra đời, lúc bấy giờ thì họ tha hồ, tự do hơn, không những tên hai chữ mà còn ba bốn chữ, để nói cái sở nguyện của bản thân. Khi còn nhỏ đi học, đặt tên ba bốn chữ thường rườm rà, gọi điểm danh không gọn mà viết ra còn choáng cột, nên rất dị òm, khiến bạn dễ chọc ghẹo.
Muốn khảo sát, nghiên cứu về lối đặt tên, tôi nghĩ ta không những thống kê phải theo thứ tự vần A, B,C, theo bộ loại về ý nghĩa mà còn phải điều tra về gia đình, gia cảnh, gia phong của những tên liên hệ. Ví dụ như ta thấy vài cung cách hay khuynh hướng đặt tên sau: Chữ Diệu thường là của giòng họ Nguyễn-khoa, chữ Như của giòng Hà-thúc ở La chữ, chữ Diệm của giòng họ Lê văn ở Kim long, chữ Hồng của gia đình họ Võ ở An ninh thượng, chữ Ngọc trong gia đình Lê khắc… Ta cũng nên điều tra thử coi những chữ như Diệu, Tâm, Tịnh, Như , Ngộ có phải thuộc gia đình sùng Phật giáo không?
Những chữ Mi có phải là đặc biệt riêng cho gia đình một thuở có con gái đẹp ở đường Hàng Me không? Đối với những gia đình hoàng phái thì sự điều tra còn xoáy vô gia phả tìm hiểu về thế hệ tiền hay hậu biên, chánh hệ hay phiên hệ, về thơ văn sáng tác vì liên hệ đến cách thức đặt tên theo các bộ Hán tự, theo những bài thi làm ra gồm những chữ cho từng thế hệ thuộc nam hay nữ. Còn những gia đình nổi tiếng khoa bảng, hay thi xã, thi đàn thì nhiều khi tên đặt mang một điển tích cổ hay lấy ý từ một bài thi phú ngày xưa. Thường khi điều tra thì có vẻ tọc mạch, nhưng cũng mang lại nhiều điều thú vị, bổ ích cho sự nghiên cứu nghiêm túc mà tôi nghĩ chưa có thể làm được vì thiếu dữ kiện. Những người đầy đủ tư cách làm công việc nghiên cứu đặc biệt về tên những cái tên học trò là những thày giáo, cô giáo nhiều năm ở Huế.
Ngoài yếu tố gia đình cục bộ, người nghiên cứu phải chăng cần phân tách những yếu tố xã hội trong khung cảnh lịch sử, địa lý và nhân văn: Vùng đất cố đô Huế văn vật, thơ mộng hữu tình đã mang một sự tương phản về sắc thái là quá chật hẹp về diện tích không gian đất đai kẹp giữa chân núi và cửa biển, nhưng lại có một chiều dày về kích thước thời gian về lịch sử và văn hóa Nho giáo trong 9 đời chúa, 13 đời vua từ mấy trăm năm. Nơi đây đã từng là chốn tụ hội thi tài của bao nhiêu sĩ tử ngoài Bắc trong Nam đổ về để thi hương, thi hội, thi đình. Nơi đây đã từng là nơi vãng lai của những tao nhân, mặc khách, nơi có những thi xã, thi đàn, có Văn miếu, có Quốc tử giám, có cơ quan Lục Bộ làm việc của các quan lại, nhất là có triều đình Hoàng đế, có Tôn nhơn phủ với nhiều phủ đệ ông hoàng bà chúa kín cổng cao tường, có lăng tẩm với những bà cung tần nhang khói. Những yếu tố trên phải chăng giải thích cung cách đặc biệt cũa những nàng gái Huế cổ truyền mơ mộng, trang nghiêm, trầm lặng đi ra ngoài bao giờ cũng mặc áo dài và đội nón lá dù trời im nắng:
 Người xứ Huế yêu thơ và nhạc lễ
Tà áo dài trong trắng nhẹ nhàng bay.
Nón bài thơ e lệ nép trong tay
Thầm lặng bước những khi trời dịu nắng
(Bích Lan)
Dân số của Tôn Nhơn phủ Huế cũng theo thời gian mà gia tăng nên hình ảnh của phái nữ hoàng phái đương nhiên phải lọt vào thơ văn, nói lên ít nhiều cái cung cách phủ đệ quí phái vang bóng một thủa vàng son:
 Gió cầu vương áo nàng tôn nữ
Quai lỏng nghiêng vành chiếc nón thơ!

(Đông Hồ)
Đất Huế trong một thuở huy hoàng trước đây được các tao nhân mặc khách cho đồng hóa với ý niệm Đẹp và Thơ, nên chúng ta không nên ngỡ ngàng nhìn hình ảnh “thăng hoa” của một mỹ nhân công chúa đất Thần kinh trong lời thơ chải chuốt óng ả của Vũ Hoàng Chương trích trong tập “ Mây”:
 Bồng bềnh mun chảy óng lưng thon,
Nhạc tía đền vua chuyển gót son.
Yểu điệu Hương giang mềm nếp áo,
Trầm bay sóng mỏng vạt trăng non.
Công chúa – là đây mộng ngự thuyền,
Bài thơ mờ tỏ, nón nghiêng duyên
Hàng mi ánh phớt tình thanh liễu,
Gờn gợn giòng thu, mắt ngọc tuyền
Môi chĩu mùa nho ngọt ý hương
Má thơm hồng hạnh kín tin hương.
Lòng ơi nghe đã niềm xưa động,
Nắng quái bờ mây gấm tịch sương
Kề song nguyệt chếch ngủ chung giường
Kinh khuyết trời xa trán tuyết sương.
Và ngay một cô lái đò bình dân ở Huế với chiếc áo dài và vành nón cũng trở thành “yểu điệu” dưới mắt của người thơ:
 Thuyền nan đủng đỉnh sau hàng phượng
Cô gái Kim luông yểu điệu chèo
(Nam Trân)
Còn đối với những nàng con gái con nhà hay dân thường cắp sách đi học nhất là học tại trường École des Jeunes Filles hay tại Đồng Khánh là ngôi trường Nữ Trung học lớn nhất nước mở ra từ năm 1917, họ đương nhiên là mang truyền thống “yêu Thơ và Nhạc, Lễ”. Lễ là cái trật tự bên ngoài, còn Nhạc là trật tự bên trong. Chính vì sự tôn trọng cái truyền thống ám tàng thầm lặng về tinh thần chuộng “yêu Thơ và Nhạc, Lễ” đã khiến các bậc cha mẹ của cái xứ văn vật thường kỹ lưỡng trong sự đặt tên, không nhất thiết phải kiều diễm, du dương nhưng ít ra nghe cũng thanh tao, nhũn nhặn, gói ghém cái đẹp ý nghĩa về tinh thần hơn là về thể chất. Phần lớn các vị nếu không phải là những vị hưu quan cựu khoa bảng thuộc Nam triều, những gia đình hoàng phái, tôn thất “tiếng cả nhưng nhà thanh”, những vị hàn nho từng lẽo đẽo trường ốc một thời, thì ít ra họ cũng thuộc giới trung lưu công tư chức trong ngạch hành chánh mới nhưng còn chuộng cái đẹp của nền cựu học.
Đại khái nếu ta nhận xét chung chung về những tên đôi của phụ nữ xứ Huế một thời trước đây, tuy ta không hoàn toàn hiểu cặn kẽ cái ý nghĩa uyên áo ẩn tàng được gói ghém trong những từ ngữ chữ nho thì ta cũng cảm nhận cái thông điệp ca tụng cái nề nếp Công, Ngôn, Dung, Hạnh cho người con gái hay tinh thần chuộng cái đẹp thanh nhã, nhàn tản trong cảnh vật thiên nhiên của người xưa. Tôi còn nhớ câu nói về tiêu chuẩn lý tưởng về tư cách của một phụ nữ Huế là “thô cũng đặng, mà thanh cũng hay”, ở nhà khi cần thì xốc vác, đảm đang chuyện nhà cực nhọc như gánh nước, chẻ củi, bếp núc lọ lem, ra ngoài thì áo nón chỉnh tề, đi đứng ý tứ, nói năng lễ độ, họp bạn thì ít nhiều cũng góp tiếng ngâm thơ đàn hát. Phải chăng lý tưởng này cũng đã phản ánh qua nhiều cái tên cho phái nữ mà các cụ muốn gửi gắm tâm nguyện dạy hai chữ “thanh thô” hay  “nhạc lễ” cho các con gái sau này về làm vợ, làm dâu?
Bản thân tôi thì học hỏi ăn đong chữ Hán nhưng cũng mù mờ hiểu tên Minh Đức hay Tri Túc là lấy từ câu trong sách xưa về đạo tu thân như Tại minh minh đức, hay Tri túc tiện túc hà thời túc… hay Thứ Vọng nói lên cái ước nguyện sống hài hòa trong tinh thần hỉ xả tha thứ với tha nhân; Túy Thiện phải chăng là mê say điều thiện hảo. Cái tên Hồng Nghê phải chăng là cái mầu hồng trên cái cầu vồng mà vị thâm nho thích ngắm nhìn khi trời mới tạnh mưa với con mắt nghệ sĩ? Nghe nói ở Huế có gia đình lấy chữ Nghê đặt cho những o con gái của mình? Cái tên Đạp thanh (dẵm lên cỏ xanh non) rõ ràng nói đến sự du xuân chạp mộ vào tiết Thanh minh trên núi Ngự. Tên Miên Hoa phải chăng đặt ra là để ghi lại kỷ niệm của mùa bông gòn nở….
Qua việc tìm hiểu cách đặt tên, tôi lại cơ duyên đặc biệt hiểu thêm nhiều điều lý thú, ví dụ như chữ Diệu nhuốm màu Phật pháp của đại đa số cô gái giòng Nguyễn-khoa ở Huế! Tôi chỉ nói là “đại đa số” thôi, ví dụ như bà Bội Lan (con gái cụ Nguyễn khoa Vy), các bà Phương Dung, Phương Mai con gái của cụ Nguyễn khoa Du, họ không còn Diệu nữa! Ngược lại, cũng có một số bà giòng họ khác thích chọn chữ Diệu như Diệu Nhơn, Diệu Ngãi, Diệu Lễ (em ruột b/s Quyến?).
Vọng tộc Nguyễn khoa ở Huế nguyên thủy là họ Nguyễn–đình có tổ quán là làng Trạm Bạc, tỉnh Hải dương ngoài Bắc nhưng theo chúa Nguyễn Hoàng mà vào Nam và sau đó cải thành họ Nguyễn–khoa. Giòng Nguyễn-khoa có ông Nguyễn khoa Đăng chức Nội tán là vị danh nhân có công nghiệp dẹp giặc cướp tại truông nhà Hồ nên được dân gian ca tụng trong câu ca dao:
 Nhớ em, anh cũng muốn vô,
 Sợ truông nhà Hồ, sợ phá Tam giang!
Phá Tam giang, ngày rày đã cạn
Truông nhà Hồ, Nội táng cấm nghiêm!
Họ Nguyễn khoa là một giòng họ có truyền thống rất sùng đạo Phật, ưa xây chùa lấy công đức, thích vun xới phước điền như ông Nguyễn khoa Thuyên tước Hiến chương hầu khi về hưu lập Long Quang tự tại Vĩnh long mà tu. Trước khi về hưu tại Vĩnh long, ông đã lập một cảnh chùa tại Bình định là chùa Linh Phong mà dân địa phương quen gọi là Chùa Ông núi. Riêng đặc biệt ở Huế vùng Tây thượng có chùa Ba la mật do ông Án sát Nguyễn khoa Luận khai sơn và tu trụ trì với pháp danh là Viên giác thuộc đời thứ 41 dòng Thiếu lâm tế ở Việt nam, đệ tử của ông về sau là sư Viên thành và sư Thích Trí thủ. Về sau, lại có ông thượng thư bộ Hộ là Nguyễn khoa Tân từng làm chánh hội trưởng hội Phật học miền Trung và ông thượng thư bộ Kinh tế là Nguyễn khoa Kỳ lập chùa An lạc dưới chân núi Ngự bình. Lại có ông Nguyễn khoa Toàn, chữ nghĩa thông thái, vẽ đẹp , đàn hay chưa đủ lại còn kiêm tài nắn pho tượng Phật tại chùa Từ đàm nữa. Đi tu tức là như vun xới khu đất phước đức cho con cháu, và hạnh bố thí cho chúng nhân nên ta không lấy làm lạ tại sao trong dòng Nguyễn khoa có những tên Diệu Phước, Diệu Hạnh, Diệu Điền…
Cũng trong việc tìm hiểu về tên, tôi lại gặp tên Như Ngộ cũng rất nhuốm màu Phật pháp vì “ngộ” tức là tỉnh ngộ, thoát khỏi u mê còn “như”thì nhắc tôi nhớ câu thơ đầu của cuốn sự tích của Phật bà Quan âm Hương tích nguyên là Chúa ba Diệu Thiện là “Chân như đạo Phật rất mầu, Báo ân chữ Hiếu, niệm đầu chữ Tâm”. Nhưng câu chuyện lại khá trớ trêu, ly kỳ ở Huế thì cái tên Nguyễn thị Như Ngộ là tên người em gái cùng cha khác mẹ với linh mục Nguyễn Hy Thích, tự là Sảng đình tức là cha J.M. Thích dạy tại trường Quốc học mà chúng tôi rất kính thương. Cha Thích là con thứ hai của cụ Thượng thư Nguyễn văn Mại, hiệu là Lô giang Tiểu Cao, người làng Niêm phò hay Kẻ Lừ, tỉnh Thừa thiên; cụ Mại rất đông con, cả thẩy đến 25 người, con trai đều có tên lót chư HY cả. Cái tên tự Sảng đình của cha Thích phải chăng là ngôi đình ngồi hứng mát trên đỉnh núi Túy vân có ngôi chùa cổ nằm quấn quít với mây trời ở gần làng Mỹ lợi, huyện Phú lộc? Ngồi ở Sảng đình, tao nhân mặc khách có thể nghe vọng lại tiếng sóng biển Đông từ chân núi vọng lên, vừa tạo hồn thơ, vừa thoát tục. Tên Sảng đình khiến ta nhớ tới bài tuyệt cú của Tùng thiện vương làm lúc lâm chung, thắm đượm mùi Thiền:
 Bán sinh học đạo thái hồ đồ
Thoát tỉ như kim nãi thức đồ
Tiến Sảng đình ba, Thiên Mụ nguyệt
Thủy Hương lâm ảnh hữu nhân vô
(Học đạo nửa đời thật viễn vông!
Cởi dép nẻo đường mới được thong
Sóng chốn Sảng đình, trăng Thiên mỗ
Hương gian bóng mát biết hay không?)
Gia đình cụ Mại vốn theo Phật giáo thuần thành nên cái tên Như Ngộ vốn là tên mà sư của chùa Tam Thai chọn đặt cho người em gái của cha Thích khi bà mới chào đời năm 1902. Cha Thích tự ý theo Công giáo và sau lại đi tu làm linh mục làmột chuyện rất trái nghịch với truyền thống gia đình. Người ta kể rằng khi cha còn tu ở tiểu chủng viện Cửa Tùng ở Quảng trị lúc 26 tuổi, một bữa cha về thăm gia đình cụ Mại bấy giờ làm việc ở Qui nhơn, bị cha mẹ ngăn cấm trở về nhà tu, nên cho người đón đường bắt về, nhưng cha đã cải trang thành con gái mà đi thoát ra nhà ga mua vé về lại Quảng trị. Về sau, bà em là Nguyễn thị Như Ngộ cũng chịu ảnh hưởng người anh cũng đòi đi tu khiến gia đình một phen lại ngăn cấm khiến bà phải trốn vô tu tại giòng tu kín Carmel ở Kim Long. Nghe đâu hai cụ ông và bà Thượng Mại đã đến nhà tu trách mắng, yêu cầu trả lại con và còn đích thân lôi con gái vế nhà, nhưng bà Như Ngộ (sau bèn cải ra là Nguyễn thị Ngọc) đã khóc lóc nằm trì xuống đất nên hai cụ cũng đành chịu thua. Bà này sau lấy tên dòng tu là Marie de l’Eucharistie năm 1921… Về sau, khi cụ Thượng Mại qua đời vào năm 1945 lúc 87 tuổi lại được chính cha Thích rửa tội cùng một lần với cụ bà mẫu thân thuộc giòng vọng tộc Thân trọng.
Tôi nghĩ rằng thuở trước đây hồi Nho giáo còn thịnh thì mỗi cái tên mà gia đình nào đặt cho con, không ít thì nhiều cũng có một sự tích hay liên quan đến một qui cách chữ nghĩa nào đó hay một kỷ niệm riêng tư nào đó. Cái tên Giáng Châu – viên ngọc trời cao ban xuống – chính là trái măng cụt trong Nam đem ra di thực ở Huế trồng ở sơn lăng. Vua Minh Mạng rất ưa ăn nên đã ban cho cái ngự danh “giáng châu tử” (Đại Nam nhất thống chí- Phủ thừa Thiên). Nhà vua nguyên đẻ ra là dân Nam vì sanh tại Sàigòn phường Tân Lộc hay tại góc hai đường Lê quí Đôn và Trần Quí Cáp sau này. Nhà vua rất mê ăn canh chua nên cũng đem trái tầm duộc trong Nam ra trồng và cũng ban cho ngự danh là “Thanh Châu tử” và làm thơ ca tụng trái tầm duộc với bài “Vịnh Thanh Châu tử” trong tập Minh Mạng thánh chế”. Sở dĩ gọi là “Thanh châu” –viên ngọc trai xanh” vì tầm duộc lúc chín vẫn giữ màu xanh. Còn quí bạn biết không, cái mỹ danh “Nam Trân” (hình như là phương danh của một vị phụ nữ giòng Thân trọng) chính là trái lòn bon mà vua này cũng khoái, bắt đem trồng ở sơn lăng.
Nghe chuyện vua Minh mạng với mấy thứ trái giáng châu, nam trân, thanh châu, xin bà con đừng nhễu nước miếng. Tầm duộc nấu canh chua với cá lóc ngon lắm, mà cá lóc, cá tràu thì theo Đại Nam nhất thống chí cũng là trong Nam đem ra ngoài Huế chứ mô nữa! Theo kỹ sư Tôn thất Trình, quít Hương cần, mía Mỹ lợi cũng thảo mộc gốc Nam kỳ di thực. Vợ của vua Minh Mạng cũng dân Nam nhũ danh Hồ thị Hoa, con gái ông Hồ văn Vui người làng Thủ đức. Cái tên nôm “ Vui” viết theo chữ nho là Bôi, làm tôi nhớ đến cách nói trại ở Huế như “ thời cơm chơi ba hột cho bui hỉ!” Bà phi Hồ thị Hoa hiền thục, hiếu kính nên đẹp lòng vua cha Gia long nên được khen và cải tên rằng: Phi nguyên tên là Hoa, hoa thì chỉ nghe thơm mà thôi, chi bằng chử Thật ( nghĩa là cái hột trái ) là gồm có quả Phúc. Bà Hoa sanh ra hoàng tử Miên (sau là vua Thiệu trị), sanh mới 13 ngày thì bị sản hậu mà chết lúc bà mới 17 tuổi khiến hoàng gia thương tiếc vô cùng. Do đó hai cái tên Hoa và Thật trở thành tên húy kỵ nên ở Huế thường nói là huê, bông, ba,thiệt như những cái tên Lan Huê (con gái của cụ Tôn thất Quảng và là em của thầy Tôn thất Hanh trường Quốc học), chợ Đông ba, tiệm chụp bóng Thanh ba, kết bông kết ba đám cưới thiệt đẹp, ăn nói thiệt thà! Quí bạn có biết chỉ riêng cái tên húy một chữ là HOA cũng là cầu kỳ lấy ý từ bốn chữ cổ văn là “ Đặc dĩ phương văn” ( cốt để truyền hương thơm). Chưa hết, lúc bà Hồ thị Hoa chết sản hậu, đứa con mới sanh ra 13 ngày - sau này là vua Thiệu trị - cứ khóc riết ngày đêm nên được ông nội Gia long đến thăm và cho rằng còn nhỏ xíu mà biết thương mẹ như vậy thì lớn lên sẽ là con hiếu nên đặt cho là DUNG.
Sau này, bà Từ Dũ – mẹ vua Tự Đức – cũng là dân Gò công, nên cũng đem vài thứ sản vật trong Nam ra Huế ví dụ như cá thác lác thịt làm chả rất ngon đem thả nuôi ở Huế, nên ở Huế có địa danh “ Cống Thác lác” (đọc trại ra là phát lác) qua khỏi Quẹo Dầng Xay gần cánh đồng trồng lúa de An cựu. Bà Từ dũ đã nhờ ông cậu Miên Thẩm (Tùng thiện vương) chăm sóc dùm hai thứ ngon miền Nam là “ trái Giáng Châu” và cá thác lác đểø các vua chúa trong cung nội dùng ngự thiện hay nói theo cung cách ngôn ngữ Huế thanh bai thông dụng là “ thời” vậy.
Lý do là Tùng thiện vương đã xin mua 12 mẫu tự đìền để cất nhà gọi là Phương thôn thảo đường (nhà tranh ở xóm dậy mùi hương) và đào ao dẫn nước gọi là Hoàng tử pha (ao của con trai vua), trên ao có giường tre ngồi uống rượu ngâm thơ còn dưới ao thì thả cá chỉ việc vớt lên làm đồ nhắm, thiệt là thú vị. Nhân đây tôi cũng đôi khi thắc mắc về chính tả chính xác của vài tên như Bách diệp hay Bạch diệp. Bách diệp nghĩa là “ trăm lá” không biết dựa theo một điển cố văn thơ nào nhưng khiến vài kẻ tinh nghịch gọi lái là “ tra lắm!”. Còn nếu là Bạch diệp (lá trắng) thì khiến tôi nhớ lại câu ca dao:
Hồ Tịnh tâm giàu sen bạch diệp!
Đất Hương Cần ngọt quí thơm cam
Ai về cầu ngói Thanh toàn,
Chờ em về với một đoàn cho vui!
Sen Bạch diệp chắc là một giống sen quí, cánh trắng muốt quen gọi là Bạch Liên. Hay là loài sen Bách diệp có rất nhiều cánh nào đó đã được tiến kinh trồng đặc biệt cho nhà vua ngự trà hay lấy hột nấu chè hột sen bọc nhãn, hay dùng ngó sen nhồi đậu xanh trong những món bổ ngự thiện. Chuyện sen hồ Tịnh nhắc ta nhớ đến chuyện tương truyền các cung tần vào mùa hạ chèo xuồng nan để nhét trà trong những búp sen mà ướp qua đêm rồi sáng tinh sương hôm sau lại chèo ra lấy thu hoạch trà đồng thời hứng những giọt sương long lanh đọng trên tàu lá sen làm nước pha trà! Thôi mà gọi là Bách hay Bạch diệp chi cũng đặng cả vì cốt nghe để mà tưởng tượng đến cái hậu vị ngon tuyệt vời của chén ngự trà thơm ngát hương sen! Vua Minh Mạng cũng khoái bông sen lắm nên năm Minh mạng thứ 17 ngài cho khắc hình bông sen trên Nhân đỉnh trong Thế Miếu. Người ta phải phục nhà vua này vừa biết “ăn” vưà biết“chơi” thiệt đúng nghĩa yêu đương!
Nói chuyện vua, xin nói qua chuyện dân về cái lối đặt tên con. Tôi có một ông bạn vong niên đặt tên con là Lạc thư. Mới nghe, tôi ngỡ anh thích nghiên cứu kinh Dịch với Hà đồ, Lạc thư. Ai ngờ lại khác hẳn, anh là loại mê đọc sách nên Lạc thư có nghĩa là tìm cái vui trong thú đọc sách!
Khuôn khổ giấy không cho tôi bút khảo dông dài. Tôi chỉ nêu lên vài đặc thù cũng như về vài sự tích quanh những cái tên gọi ở cái đất Thần kinh cổ kính mà tôi có dịp lượm lặt. Điều này không có nghĩa là những tên phụ nữ Việt Nam ở ngoài Bắc hay trong Nam, kém hay, kém đẹp và không có những nét đặc thù và ý nghĩa riêng biệt đáng nghiên cứu đâu! Phụ nữ ở đâu cũng một vưu vật của vũ trụ cả.
Nhìn chung, than ôi, chúng ta là những kẻ hậu sinh trong một giai đoạn lịch sử đã xoay chiều, đối với cái chiều dầy của nền văn học cũ uyên áo thâm thúy thì chúng ta đành thú nhận là dốt nát khi tìm hiểu toàn bộ những cái tên của những phụ nữ Việt nam – trong đó xứ Huế đã đóng góp một phần đáng kể trong một thuở nào? Phải chăng đó là những thông điệp bằng ngôn từ chúc nguyện hay giáo dục về trau dồi đức hạnh cùng là quan niệm nghệ thuật trang nhã được cô đọng gửi gắm cho lũ con đàn cháu mà những bậc sinh thành muốn truyền đạt để chúng noi theo dựa vào thuyết chính danh. Riêng ở Huế, những cái tên thâm thúy hay đẹp đặt ra kể từ thập niên 50-60 về trước, dần mai một, một loạI “trân quí đang bị thất truyền” (endangered species!) về văn hóa vì cái dư vị Nho học, cái cung cách Huế thuần túy phai lạt hay tắt ngúm với sự ra đi vĩnh viễn của các ôn, các mệ thâm nho rồi.
Trong bài này, tôi đã mạn phép kể ra nhiều phương danh mỹ tự của nhưng vị phụ nữ ở Huế mà tôi hoặc là qua trí nhớ hoặc là trích dẫn từ các tuyển tập, đặc san về Huế với mục đích thuần túy biên khảo. Có thể tôi đã phạm những sơ sót, sai lầm vô tình về chính tả hay lời giải thích này kia nên tôi chân thành mong quí vị hoan hỉ chỉ giáo hay nhuận chính, hay góp ý, bổ túc hay cung cấp những tài liệu cụ thể. Xin muôn vàn đa tạ.
LÊ VĂN LÂN

Huế thơ & thơ Huế


Huế thơ & thơ Huế
ĐẶNG TIẾN
Nói đến Huế, người ta thường xưng tụng “Huế đẹp và thơ" là tên một tập thơ của Nam Trân (1939) với những hình ảnh đặc sắc Huế.Thuyền nan đủng đỉnh sau hàng phượngCô gái Kim Luông yểu điệu chèo
Thuyền đủng đỉnh" phải là con đò Huế, “yểu điệu chèo“ phải là cô gái sông Hương. Nhưng Nam Trân Nguyễn học Sỹ, 1907-1967 là “học trò trong Quảng ra thi ; thấy cô gái Huế chân đi không đành“, chứ không phải là người Huế. Giới thiệu Nam Trân, Hoài Thanh đã nhận xét: “tả cảnh Huế chưa ai bằng Nam Trân“ nhưng tác giả Thi Nhân Việt Nam (1942) lại có nhận xét:
“Huế đẹp, Huế nên thơ. Ai chẳng nói thế? Ai chẳng thấy thế? Nhưng sao hình ảnh Huế trong thi ca lại tầm thường thế? có lẽ cảnh Huế quá huyền diệu, quá mơ màng không biết tả thế nào cho thoát sáo “.

Nói thế là khe khắt vì thơ về Huế đã và đang có nhiều bài hay, nổi tiếng như bài Đây thôn Vỹ Dạ của Hàn Mặc Tử (1912-1940) người Quảng Bình:
Sao anh không về chơi thôn Vỹ
Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên
Vườn ai mướt quá xanh như ngọc
Lá trúc che ngang mặt chữ điền


Cảnh Huế đã gây rung động nhiều lòng người phương xa ghé lại, làm quan, đi học hay du lịch. Nguyễn Du đã làm quan kinh sư, có người cho rằng không gian Phú Xuân đã góp âm hưởng vào truyện Kiều. Điều này không chắc, nhưng Nguyễn Du đã làm nhiều thơ về Huế, như bài Thu Chí (1805):

Hương Giang nhất phiến nguyệt
Kim cổ chứa đa sầu


dịch :
Sông Hương trăng một vầng
Kim cổ sầu mang mang             

Thơ Huế của Nguyễn Du chủ yếu nói lên tâm sự bất đắc chí và hoài cổ, chứ không chủ tâm tả cảnh núi Ngự sông Hương. Thơ Cao Bá Quát cũng vậy. Nổi tiểng nhất là câu thơ tả sông Hương (1809):
Vạn chướng như bôn nhiễu lục điền
Trường giang như kiếm lập thanh thiên


dịch :
Ruộng biếc núi vòng như chạy quanh
Sông dài như kiếm dựng trời xanh

Toàn bài tám câu mang tâm trạng nhớ nhà. Bài tứ tuyệt Hương Giang tạp vịnh tả cảnh thành phố, nhưng chủ yếu là để nói lên chí khí ; và hay nhất ở hai câu sau:

Nhất đái duyên giang giáp đệ hùng
Ngũ quân khai phủ chiếu tây đông
Vinh khô tứ thập dư niên sự
Chỉ hữu hà hoa tự cựu hồng.

dịch :
- Gác tía lầu son lóa mé sông    
Này dinh này phủ ngất tây đông
Bốn mươi năm ấy nào vinh nhục
Mà đoá sen xưa vẫn đỏ hồng
- Dọc sông dãy dãy lâu đài,
Này đồn, này phủ, đông tây đối đầu.
Bốn mươi năm, những bể dâu
Màu sen năm cũ vẫn màu hồng xưa

Hơn trăm năm sau, nhà nho Phan Bội Châu có bài phú vịnh phong cảnh Huế (1926) với câu thơ nổi tiếng về con sông Hương “Hương ơi, e phải mày không – Sông ấy hoá ra mình có “.
Nội dung bài phú dài diễn tả niềm đau đớn của người dân mất nước chứ không phải để tả phong cảnh cố đô, nơi Phan Bội Châu, ông già Bến Ngự, bị giam lỏng.

Thời kỳ Phan Bội Châu bị quản thúc ở Huế cũng là thịnh thời của thơ mới. Hai nhà thơ mới chịu nhiều ảnh hưởng Huế vì ăn học tại cố đô là Xuân Diệu và Huy Cận. Xuân Diệu (1917-1985) chỉ học ở Huế một năm, năm cuối bậc trung học (1936-1937) nhưng đúng vào thời anh hoa phát tiết, năm 1936 bắt đầu có thơ đăng báo và trái tim non trẻ đã rung động sâu xa trong tiềm năng sáng tạo, qua tập Thơ Thơ (1938). Huy Cận, 1919-2005, bạn thân của Xuân Diệu, thời đó ăn học ở Huế, đã kể lại:

“Xuân Diệu gặp Huế là gặp người và cảnh đồng điệu. Anh rất mê ca nhạc Huế và anh biết hát, hát khá hay, hầu hết các bài ca Huế, từ Nam ai, Nam bằng, tứ đại cảnh đến phú lục, lưu thủy, kim tiền, bình bán, phẩm tiết... đến các điệu hò mái nhì, mái đẩy (...). Việc anh thuộc ca nhạc Huế có ảnh hưởng tốt cho sự phát triển của thơ anh, chính anh cũng nhận rõ thế “. (Bài thơ Thôn Vĩ, Huế,1987, tr. 53),

Tại hội nghị Văn Nghệ bộ đội, ngày 13/4/1949, Xuân Diệu trổ tài:
“Xuân Diệu hò Huế, Xuân Diệu vuốt một câu ca dao như ta nâng một dải lụa... Những tiếng reo hò ở dưới: nữa, hò nữa! xen vào những tràng pháo tay... “ (Nguyễn Huy Tưởng kể lại, báo Văn Nghệ, Việt Bắc, số 11-12 tháng 4/5/1949).

Bài Nguyệt Cầm của Xuân Diệu là hồi âm những giai điệu hồi quang của ánh sáng Huế lung linh trong thơ:
Trăng nhập vào dây cung nguyệt lạnh
Trăng thương, trăng nhớ, hỡi trăng ngần!
Đàn buồn, đàn lặng, ôi đàn chậm
Mỗi giọt rơi tàn như lệ ngân

Mây vắng, trời trong, đêm thuỷ tinh
Linh lung bóng sáng bỗng rung mình
Vì nghe nương tử trong câu hát
Đã chết đêm rằm theo nước xanh.

Người ta thường ngân nga thơ Xuân Diệu mà quên rằng văn xuôi Xuân Diệu cũng xuất sắc như tập Phấn thông Vàng với một số bài viết tại Huế, như đoạn tả cảnh Nam Giao:
“Chiều lên dần. Tôi càng đi, trời càng tối. Con đường Nam Giao thẳng mà không bằng, tôi khởi đi trong ánh sáng và tôi tới dần trong bóng tối, tựa hồ bên thành phố Huế là ngày, bên đàn Nam Giao là đêm... Vâng, chiều lên dần; chiều không xuống...“ (Thương vay, tặng Huy Cận, Phấn Thông Vàng, 1939).

Xuân Diệu quê nội Nghệ An, quê ngoại Bình Định, “cha đàng ngoài mẹ ở đàng trong / hai mái đèo ngang một mối tơ hồng“ (1960), còn Huy Cận quê Hà Tĩnh; và Xuân Diệu đã viết: “Huy Cận còn có một quê hương thứ hai, là Huế “, vì Huy Cận đã sống và ăn học tại Huế mười hai năm (1927-1939) học từ lớp ba đến tú tài, đến khi nguồn thi hứng đã định hình. Rất nhiều bài trong tập Lửa Thiêng (1940) đã được khai từ hay khai trí tại Huế, như bài Chiều Xưa đăng trên báo Ngày Nay, số Tết 1938, cùng một khung với Cảm Xúc của Xuân Diệu
Chiều gieo theo gió ven hồ,
Đèo cao quán chật, bến đò lau thưa.

Đồn xa quằn quại bóng cờ,
Phất phơ buồn tự thời xưa thổi về
Ngàn năm sực tỉnh, lê thê
Trên thành son nhạt, - chiều tê cúi đầu…:

Dấu phẩy thuộc cú pháp, syntaxe, gạch ngang thuộc thi pháp, poetique. Bút pháp này Huy Cận lĩnh hội từ Rimbaud. Giữa những cặp lục bát, có khoảng trắng. Mỗi cặp lục bát là một khổ thơ, strophe.

Cho mãi đến cuối đời, 70 năm, sau Huy Cận vẫn chung thủy với nguồn thơ thưở nhỏ. Thơ Huế của Huy Cận về sau rõ nét, hiện thực và nhân đạo, như bài Phố Đông Ba làm 1972:

Phố Đông Ba của tôi ngày bé
Có ông cả Soạn đánh cờ cao
Lắm khi một buổi đi vài nước
Để bạn bè vây nghĩ nát đầu

Ông lại đàn hay. Nguyệt tiếng tơ
Hồn ve dắn dỏi dưới trăng mờ
Mòn tay tài tử dăm cung nhấn
Nghe cả trời thu nức nở mưa

Bài thơ mô tả chính xác đường Đông Ba một khu phố nghèo ở Huế những năm 1930 với sinh hoạt thời đó, nhất là về mặt văn nghệ dân gian. Huế giàu chất thơ không phải chỉ nhờ những nét đẹp đài các bên ngoài:

Hai hàng, tôn nữ cười trong nón.
Thơ mở lòng ra đón bóng yêu

             (thơ Quỳnh Dao)
hoặc:
áo tím qua cầu thơ cũng hết mùa thu

             (thơ Trang Châu)

Huế còn giàu chất thơ trong nội dung đời sống, trong tâm thức âm trầm về thân phận con người và số phận dân tộc, những ám ảnh mà Huy Cận đã ghi lại được trong bài Phố Đông Ba

Cuối phố gốc cây chiều chủ nhật
Là ông xẩm chợ với hai con
“Kinh đô thất thủ“ vè quen thuộc
Lớn nhỏ ngồi nghe nặng trĩu hồn

“Thất thủ Kinh Đô
“ là một bài vè, dài khoảng 2.000 câu, kể lại cuộc phản công quân sự của triều đình Huế đêm 4/7/1885: Thất bại, vua Hàm Nghi phải bỏ Huế ra Quảng Trị. Cuộc thất bại của triều đình là bi kịch của đất nước nằm chồng lên thảm cảnh của nhân dân Huế.

Tuy nhiên bên cạnh những hình ảnh nhức nhối ấy, Huế vẫn để lại trong hồn thơ Huy Cận những kỷ niệm dịu dàng, mượt mà như giòng sông phẳng lặng trong Huế Vấn Vương (1978)

Xanh mượt bờ xanh Huế Huế ơi!
Cỏ cây đây đã hoá vườn trời
Người đi bước nhẹ không nghe tiếng
Mà nặng lòng yêu biết mấy mươi.

Huế hoa thiên lý mùi hương thoảng
Huế tím chiều thu giậy ước mơ
Mái đẩy câu hò ngân ánh nước
Sông không trôi bởi luyến lưu bờ

Tuổi nhỏ đời ta Huế giữ không?
Cho ta xin lại tháng năm hồng
Cho ta trở lại ngày xưa cũ
Mới hái mùa thơ giữa độ bông
Tình bạn tình yêu Huế khéo ươm
Hoa xuân trái đậu tháng năm trường
Bâng khuâng nay nhện chiều giăng lưới
Bảng lảng lòng ai Huế vấn vương...

Đề tài văn thơ mênh mông. Chúng tôi trích dẫn tác phẩm Xuân Diệu - Huy Cận vì mảng thơ Huế chiếm phần quan trọng – ít nhất là trước 1945 – trong sự nghiệp hai ông. Một mặt hai ông tiếp thu vào cảm xúc, và phản ánh lại khá rõ nét những âm sắc của cố đô, mặt khác tư liệu về họ khá đầy đủ, cho phép chúng ta lý luận chính xác. Còn nhiều bài khác của tác giả khác về Huế, chúng tôi sẽ có dịp bàn thêm vào dịp khác.

Có tác giả chỉ ghé qua Huế một lần và cũng để lại tác phẩm hay như Nguyễn Bính 1918-1966,với tập thơ Mười hai Bến Nước (1942) gồm nhiều bài nổi tiếng như: Xóm Ngự Viên, Giời Mưa ở Huế,...

Đặc biệt nhạc sĩ Văn Cao 1923 - 1995, chỉ một lần ghé Huế, nhưng đă tiếp thu nhiều rung động nghệ thuật. Ông kể lại: “Huế là một nguồn sáng tạo của tôi trong những năm 1940. Thơ và nhạc là điều tôi tìm nguồn từ ấy. Có lẽ lịch sử và cảnh vật của cố đô có những điều gây cảm xúc cho sáng tạo. Có lẽ sự sáng tạo của người dân Huế giúp tôi làm được âm nhạc và thơ “. (Bài Thơ Thôn Vỹ, 1987, tr.152). Đây là tiếng đàn trên sông Hương mà nhà thơ Văn Cao đã ghi lại, trong bài nhạc Thiên Thai nổi tiếng. Và trong thơ:

Em cạn lời thôi anh dứt nhạc
Biệt ly đôi phách ngó đàn tranh
Một đêm dàn lạnh trên sông Huế
Ôi nhớ nhung hoài vạt áo xanh
...

Chúng ta đã cùng nhau nhìn lại mảng thi ca về Huế trước 1945 của những tác gia không phải người Huế. Sau này, có dịp, ta sẽ tìm hiểu thêm về một xứ Huế gần đây hơn, thời sự hơn, với những sôi nổi và đau thương chưa lắng xuống.

Vì không phải chỉ có một Huế đẹp và thơ xa xôi trong mộng tưởng. Vì còn một Huế khác, đau thương và khốn khó, như trong ca dao xứ Huế:
  Ví dầu đèn tắt, có trăng,
Khổ thì em chịu, biết mần răng đặng chừ
…

Nhân Festival Huế 2010, tôi muốn gửi tấm lòng thiết tha của người hải ngoại về với mảnh đất Huế và con người Huế yêu thương, về một vùng văn hoá giàu có.
Với hy vọng rằng niềm mừng vui hôm nay của Festival sẽ không tàn theo những trận pháo bông, sẽ không lịm tắt theo lời ca điệu múa.

Hy vọng rằng Festival không dừng lại ở màu sắc phương xa, gọi là exotic, của những nền văn hoá đã phôi pha hay đang hấp hối.

Và hy vọng rằng Festival Huế 2010 sẽ thổi bùng lên ngọn lửa văn hóa Phú Xuân chưa bao giờ đuối sức, và thổi bùng lên tiềm năng văn hóa hùng tráng của đất Huế và người Huế, một bộ phận hữu cơ của đất nước Việt Nam, một âm sắc đặc biệt trong nền văn minh thế giới.
Gửi Huế niềm tin thiết tha và da diết.

Orleans, 01 tháng Tư, 2010.
Ngày giỗ Trịnh Công Sơn.