Nam Trân

Nam Trân

Thứ Hai, 1 tháng 7, 2019

Bảng tra Các chức quan, phẩm tước, học vị thời phong kiến Việt Nam


Bảng tra Các chức quan, phẩm tước, học vị thời phong kiến Việt Nam
Án sát :Tháng 6 năm Hồng Đức thứ 2 (1471), đặt chức Án sát ở 12 Thừa tuyên và đặt bat y (tức Đô ty, Thừa ty, Hiến ty) ở Quảng Nam. Năm Minh Mạng thứ 12 (1831) quy định Án sát dưới quyền Tổng đốc, Tuần phủ. Ty Án sát sứ các tỉnh có Thông phán, Kinh lịch, bát cửu phẩm Thư lại, Vị nhập lưu thư lại. Số lượng nhiều ít tuỳ theo từng tỉnh.
Ở các tỉnh nhỏ chỉ có Tuần vũ thì Án sát giữ vị trí tỉnh Phó giữ  việc hình. Thời Tự Đức (1848-1883) Án sát coi như tỉnh Phó của tỉnh nhỏ.
Án sát sứ ty:là cơ quan phụ trách việc hình thời Nguyễn. Là ty giúp việc cho Tổng đốc hoặc Tuần vũ.

Thứ Ba, 12 tháng 6, 2018

Cuộc đối đáp chung quanh công trình Thơ văn Lý - Trần


Nguyễn Đình Chú
Cuộc đối đáp chung quanh công trình Thơ văn Lý - Trần
Ðúng là trong bài viết “Nguyễn Ðức Vân: một người xứ Nghệ” đăng trên Tạp chí Văn hoá Nghệ An số 124 ra ngày 10 tháng 5 năm 2008 vừa qua tôi đã nói đến công phu sưu tầm dịch thuật Thơ văn Lý - Trần của nhạc phụ tôi cùng với bác Ðào Phương Bình mà trong Lời mở đầusách Thơ văn Lý - Trần tập I xuất bản năm 1977 [1] , ông Huệ Chi với tư cách trưởng nhóm kiêm chủ biên đã ghi rõ: 

"Hơn 10 năm qua, kể từ sau ngày thành lập, Viện Văn học đã để ý tìm hiểu văn học của thời đại Lý - Trần. Năm 1960, tổ Hán Nôm của Viện được giao nhiệm vụ Sưu tầm và phiên dịch ra tiếng Việt toàn bộ thơ văn từ đời Hồ trở về trước trong các sách vở chữ Hán còn lưu trữ tại các thư viện và trong một số tài liệu bị ký còn nằm rải rác ở các đình chùa miền Bắc. Các đồng chí Nguyễn Ðức Vân, Ðào Phương Bình, cán bộ trong tổ đã trực tiếp tiến hành công việc đó. Nhờ nỗ lực tìm tòi nghiên cứu, lại có sự giúp đỡ tận tình của các anh em khác trong tổ nên công việc đã tiến hành tương đối thuận lợi, mỗi năm khối lượng thơ văn tập hợp được phong phú dần. Ðến năm 1965 thì việc sưu tầm cũng như phiên dịch bước đầu đã hoàn thành" [2] . 

NAM TRÂN (1907-1967) - nhà thơ, nhà Hán học lỗi lạc không thể quên


HV123 - NAM TRÂN (1907-1967) - nhà thơ, nhà Hán học lỗi lạc không thể quên
MAI QUỐC LIÊN
Có một câu chuyện vui về Nam Trân. PGS Lê Sơn, một dịch giả nổi tiếng về văn học Nga, vốn là một “viện sĩ” của Viện Văn học ngày xưa, cùng tôi đàm đạo về “nhân sự” của viện ngày ấy. Câu hỏi đặt ra là: Vậy thì ai là người xuất sắc nhất của viện thời ấy? Cả Lê Sơn và tôi đều thốt: Nam Trân! Dĩ nhiên đó chỉ là ý kiến riêng của hai chúng tôi thôi. Nếu lấy chức tước, thì Nam Trân khi ấy chỉ là Tổ phó Tổ Cổ Cận, và ăn lương chuyên viên 1!

Chủ Nhật, 22 tháng 4, 2018

THƠ CỦA NAM TRÂN


NGỌA DU NHÂN[1]
Tạp chí Sông Hương số 3, 1936
Đầu năm 1935, báo Tràng An ra đời; năm bảy kỳ đầu tiên đó người ta thấy những bài thơ dưới ký tên Nam Trân. Nhiều bạn làng văn ở Huế tin rằng Nam Trân sẽ từ nay tiếng nổi như phao trên thi đàn và thơ của Nam Trân sẽ được gặp luôn luôn trên tờ báo mới ấy. Không ngờ, trải qua một thời gian chẳng phải vắn vỏi gì mà cái điều sở nguyện của người ta vẫn chưa thấy toại; rồi thơ Nam Trân từ đó cũng tuyệt tích trên báo Tràng An!

Thứ Bảy, 14 tháng 4, 2018

Nam Trân với Huế

Nam Trân với Huế
(Nhân kỷ niệm 90 năm ngày sinh và 30 năm ngày mất nhà thơ Nam Trân)

Nhà thơ Nam Trân tên thật là Nguyễn Học Sĩ, sinh ngày 15/2/1907, mất ngày 21/12/1967 là người quê Đại Lộc, Quảng Nam, nhưng tên tuổi ông gắn bó với Huế hơn nửa thế kỷ nay không chỉ vì ông từng là học sinh Trường Quốc học Huế và sau khi đỗ tú tài làm tham tá tòa Khâm sứ Huế, mà chủ yếu vì tập thơ đầu tay "Huế Đẹp và Thơ" đã được các tác giả "Thi nhân Việt Nam" trân trọng đánh giá: "...tả cảnh Huế chưa ai bằng được Nam Trân."

Màu hoa phượng


Màu hoa phượng

TÔ NHƯ


Đi trên đường phố như đi giữa muôn lá nghìn hoa qua bốn mùa xuân hạ thu đông. Với miền Trung xuân thu chỉ là bước chuyển tiếp giữa đất trời mùa đông mưa gió lay phay chỉ có mùa hạ nắng cháy mới thấy quí một mảng xanh một chùm hoa dưới nắng. Cũng như nhiều thành phố khác hạ Huế ngập đầy hoa phượng.
Những lần hội ngộ bạn bè trường xưa lớp cũ khi men say đã thấm ai cũng hát khẽ đôi điệu boléro nỗi buồn hoa phượng "Mỗi năm đến hè lòng man mác buồn. Chín mươi ngày qua biết bao tình thương. Ngày mai xa cách hai đứa hai nơi. Phút gần gũi nhau mất rồi..." Đâu chỉ có chín mươi ngày qua mà hàng nghìn ngày qua và có khi cả đời không gặp lại.

Trên Giòng Hương Giang



Trên Giòng Hương Giang
BS Lê Văn Lân
(1931 -2013)
tản mạn
(do nhà văn Trần Thị Lai Hồng gửi)
 http://www.gio-o.com/Chung/LeVanLanTrenGiongHuongGiang.htm 

Thơ tiếng Pháp về Huế tựu trung có vài tác giả đã đăng nhiều sáng tác trong Tập
san Đô Thành Hiếu Cổ hay Đặc san Những Người Bạn Cố đô Huế ( Bulletin Des
Amis du Vieux Hué – viết là BAVH ) nhưng có tiếng với độc giả Việt nam chỉ có hai người: đó là Henri Guibier và Henri Cosserat.