Nam Trân

Nam Trân

Thứ Tư, 11 tháng 9, 2013

Một câu thơ của ông Tú Mỡ

Tặng Trần Ngọc Liễn
"Lấy vợ không nên lấy vợ nhiều,
Một bà thôi cũng đủ thương yêu"
(GIÒNG NƯỚC NGƯỢC)


Em bảo rằng: "Anh có vợ rồi,
Một bà thôi cũng đủ... yêu. Thôi"
Ô hay! Quan niệm đã eo hẹp!
Chẳng biết tình anh tựa bể khơi.

Ai cấm ta yêu cả đất trời?
Yêu cơn gió mát, đoá hoa tươi ?
Yêu sừng trăng bạc treo đầu núi?
Yêu cặp môi son điểm nụ cười

Viện tình do bước đến nơi:
Truy hoan chung cuộc, gặp người tình chung.
Về đi! Về với anh cùng.
Vườn xuân thêm được khóm hồng thêm xuê!

Thì cứ về đi! Ngại nỗi chi? cho
Đứng lên, ngồi xuống, mệt chưa tề!
Có đâu chẳng được phần âu yếm
Mà sợ về sau tiếng bấc, chì?

Ái tình: một mối huyễn vi.
Công đâu thị thị, phi phi nhọc lòng.
Trăng khuya ngấn bạc mây lồng,
Về đi! Kẻo chị ngồi trông canh chầy.

Huế, Đẹp và Thơ

Đẹp và Thơ - Cô gái Kim Luông Anh chài tự đắc Bài hát của đại phi công Bài thơ nhất cú hay là nỗi khổ tâm của thi sĩ Bỏ quách lối thơ xưa Cánh cửa Cảnh quê Cầu bạn Chôn hoa Điếu thuốc cháy suông Đời người Eng Gặp khách đong đưa Giận khúc Nam ai Hà Nội, mưa phùn Hái hoa hồng Hồ Tịnh Tâm hay chuồn chuồn Huế, đêm hè Huế, mưa dầm Huế, ngày hè Khiêu vũ 1935 Khoá xuân Liên tưởng Một câu thơ của ông Tú Mỡ Mùa đông, cánh đồng An Cựu  Nắng thu Núi Ngự, sông Hương Ngại ngùng khi bước chân ra Sầm Sơn trường hận  Sóng bạc tình Sơn còn ướt Tiếng chuông Diệu Đế Trên núi Ngự Trước chùa Thiên Mụ Vườn cau Nam Phổ

Thứ Hai, 9 tháng 9, 2013

Đọc lại bài thơ Khán “thiên gia thi” hữu cảm (Nhân 70 năm Nhật ký trong tù)

Đọc lại bài thơ Khán “thiên gia thi” hữu cảm (Nhân 70 năm Nhật ký trong tù)
09/09/2013 08:28:40

Khán “thiên gia thi” hữu cảm (Cảm tưởng đọc “thiên gia thi”) là bài thơ được viết theo thứ tự 131 trên tổng số 133 bài trong Nhật ký trong tù của Hồ Chí Minh. Hơn nửa thế kỷ qua, có nhiều lời bình về bài thơ, trong đó có người cho rằng đây là “tuyên ngôn thơ” của Bác. Mấy chục năm qua, tôi đọc bài thơ này rất nhiều lần. Năm nay, đọc lại bài thơ cùng với nhiều lời bình, liên hệ với bối cảnh sáng tác và cuộc đời, trình độ, lý tưởng của tác giả, tôi lại phát hiện và học thêm nhiều cái hay mới.
 
Trước hết, ta nên xem lại một lần nữa nguyên văn chữ Hán và bài dịch thơ của Nam Trân:

Phiên âm:

Khán “thiên gia thi” hữu cảm

Cổ thi thiên ái thiên nhiên mỹ
Sơn thủy yên hoa tuyết nguyệt phong
Hiện đại thi trung ưng hữu thiết
Thi gia dã yếu hội xung phong

Dịch thơ:

Cảm tưởng đọc “thiên gia thi”

Thơ xưa thường chuộng thiên nhiên đẹp,
Mây, gió, trăng, hoa, tuyết, núi, sông;
Nay ở trong thơ nên có thép,
Nhà thơ cũng phải biết xung phong.

NAM TRÂN dịch

Hai câu đầu tác giả nêu nhận định về thơ xưa: Thơ xưa nghiêng về yêu cảnh đẹp thiên nhiên; núi, sông, khói, hoa, tuyết, trăng, gió. Thiên nhiên bao la, đa dạng; tác giả chỉ nêu tượng trưng vài cảnh đẹp thiên nhiên. Thiên gia thi là tập thơ chọn lọc trên 200 bài của nhiều nhà thơ Đường - Tống gồm những bài dễ đọc, dễ hiểu, dễ nhớ; vì thế, nó chưa phản ánh đầy đủ cổ thi Trung Quốc. Có nhiều chứng cứ cho thấy Hồ Chí Minh đọc rất nhiều cổ thi Trung Quốc. Nhân đọc tập Thiên gia thi, Người đưa ra một nhận định về cổ thi nói chung chứ không riêng gì những bài thơ in trong Thiên gia thi. Thơ cổ Trung Quốc có nhiều đề tài: vũ trụ, thiên nhiên, xã hội, con người, sinh hoạt, triết lý cuộc sống,…; các đề tài thường không “biệt lập” mà ít nhiều có quan hệ nhau; trong đó đề tài thiên nhiên chiếm tỷ trọng lớn. Phác họa cảnh đẹp thiên nhiên, cảm xúc và giao hòa với thiên nhiên là một trong những nét đặc sắc của cổ thi Trung Quốc. Có người nêu vẻ đẹp thiên nhiên “thuần túy”; có người mượn thiên nhiên để ký thác tâm sự và ý tưởng của mình; có người chán cuộc sống, “lẩn trốn” vào thiên nhiên. Đọc Thiên gia thi là “dịp” để Hồ Chí Minh đưa ra nhận xét về một khía cạnh của cổ thi là nghiêng về yêu cảnh đẹp thiên nhiên. Nhận định này cũng đúng đối với cổ thi Việt Nam.

Nhận định như vậy, Hồ Chí Minh không có ý phê phán thơ tả cảnh đẹp thiên nhiên của cổ thi. Thơ tả cảnh thiên nhiên có nét đẹp riêng, góp phần làm phong phú, đa dạng thơ cổ. Hồ Chí Minh rất mực yêu thiên nhiên, sống chan hòa với thiên nhiên, biết thưởng thức cái đẹp của thiên nhiên, bảo vệ và vun bồi thiên nhiên. Họa sĩ Diệp Minh Châu kể lại hồi ở Việt Bắc: “Có một đêm hai Bác cháu đang nghe đài phát thanh, bỗng Bác gọi: Chú Châu, qua đây! Tôi đến ngồi cạnh Bác, Bác kéo đầu tôi ghé cạnh Bác, trỏ tay khung cửa sổ. Một mảnh trăng liềm vừa nhô ra khỏi núi, tỏa sắc xanh huyền ảo xuống những dãy núi xa”. Có điều kiện, Bác cũng tận hưởng vẻ đẹp của thiên nhiên. Sống, Bác gắn bó với thiên nhiên; qua đời, Bác có nguyện vọng hỏa táng, “tro xương thì tìm một quả đồi mà chôn”, “nên có kế hoạch trồng cây trên đồi” để Bác yên nghỉ cùng thiên nhiên.

Đặc biệt, thơ của Bác - cả thơ chữ Hán và thơ tiếng Việt - chứa đựng đầy cảnh đẹp thiên nhiên. Tất nhiên, thiên nhiên trong thơ Hồ Chí Minh có nét mới so với thiên nhiên trong cổ thi. Bác vừa kế thừa cái hay của cổ thi trong đó có cảnh đẹp thiên nhiên, vừa vượt qua, đột phá, tạo ra cái hay mới. Các bài tả cảnh đẹp và cảm xúc trước thiên nhiên như Nguyên tiêu, Lộ thượng, Vọng nguyệt, Tẩu lộ… có thể xem là tiêu biểu cho lòng yêu quý vẻ đẹp của thiên nhiên, cảm xúc, niềm lạc quan yêu đời trước thiên nhiên, dù có trường hợp phải ở trong hoàn cảnh khắc nghiệt của tù đày.

Hai câu sau tác giả đưa ra quan điểm của mình về thơ và trách nhiệm của nhà thơ: Thời đại hiện nay, trong thơ nên có thép; Nhà thơ cũng phải biết xung phong. GS Vũ Khiêu viết: “Thép” trong thơ chính là phẩm chất tư tưởng và thẩm mỹ của thơ. Thơ phải có “thép” nghĩa là phải có tính chiến đấu, phải góp phần cải tạo xã hội và tự nhiên, phải phục vụ cách mạng. Phục vụ cách mạng không phải chỉ là yêu cầu của cách mạng đối với thơ. Đó cũng là yêu cầu của bản thân thơ, nếu thơ muốn thật sự là thơ (Hồ Chí Minh tác giả tác phẩm nghệ thuật ngôn từ, NXB Giáo dục, Hà Nội, 2003, trang 230). Đúng vậy, đó là yêu cầu của thơ hiện đại. Nhưng nó là một trong những yêu cầu quan trọng chứ không phải tất cả. Tôi tán thành cách hiểu của GS Hoàng Như Mai: “Nên hiểu là nên có thêm thép là cái mà thơ xưa nói chung chưa có. Không nên hiểu thơ nay chỉ là thép, tất cả những gì khác bị loại trừ” (Sđd, trang 510). Mặt khác, thơ là cảm xúc, là sáng tạo; chất “thép” trong thơ cũng thể hiện đa dạng, nhiều mức độ, sắc thái và hòa quyện với các yếu tố khác.

Bài thơ Cảm tưởng đọc “Thiên gia thi” ra đời năm 1943 khi chiến tranh thế giới lần thứ hai đã bùng nổ, tạo thời cơ cho các nước thuộc địa giành độc lập. Sự nghiệp cách mạng của đất nước Trung Quốc - đất nước của thơ Đường rực rỡ - rất cần có những nhà thơ, những văn nghệ sĩ cách mạng. Ở nước ta, mùa xuân năm 1941, Bác Hồ về nước trực tiếp lãnh đạo cách mạng, xác định giải phóng dân tộc, giành lại độc lập tự do là nhiệm vụ hàng đầu. Lực lượng cách mạng được xây dựng ngày càng mạnh lên cả về chính trị, quân sự, văn hóa. Hồ Chí Minh đánh giá cao vị trí, vai trò của văn nghệ sĩ trong đó có nhà thơ; yêu cầu họ phải tích cực góp phần chiến đấu cho mục tiêu độc lập dân tộc, ấm no hạnh phúc của nhân dân. Sau này, Người tiếp tục khẳng định: “Văn hóa văn nghệ cũng là một mặt trận. Anh chị em là chiến sĩ trên mặt trận ấy”. Người giao nhiệm vụ cho văn nghệ sĩ rất “nặng nề” nhưng đem lại vinh quang cho văn nghệ sĩ rất lớn. Tinh thần “xung phong” của văn nghệ sĩ và chất “thép” trong các tác phẩm của họ góp phần quan trọng vào thắng lợi của hai cuộc kháng chiến, giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước. Nhiều văn nghệ sĩ đã anh dũng hy sinh. Văn nghệ kháng chiến, giải phóng dân tộc mãi mãi xứng đáng là đỉnh cao của nền văn nghệ cách mạng Việt Nam.

Tôi chú ý nhiều hai chữ “hiện đại” trong câu thơ thứ ba. Theo thiển ý, câu thơ dịch là “nay” thì mới dịch chữ “hiện” chứ chưa dịch chữ “hiện đại”. Chữ “hiện” có nghĩa là: Nay, hiện nay, hiện thời, hiện đang, bây giờ, trước mắt. Còn “hiện đại” có nghĩa là “thời đại ngày nay”. “Hiện đại” rộng nghĩa hơn “hiện”; “thời đại hiện nay” rộng nghĩa hơn “nay”. Cho nên, hai câu dịch thơ sau có thể chỉnh lại là: Hiện đại trong thơ nên có thép/ Nhà thơ cũng phải biết xung phong. Hai chữ “hiện đại” nói lên điểm xuất phát, căn cứ khách quan quy định sứ mệnh của văn nghệ sĩ, của nhà thơ hiện đại.

Thời đại hiện nay là thời đại chủ nghĩa đế quốc gây biết bao tội ác, đau khổ đối với nhân dân và các dân tộc thuộc địa; là thời đại đa số người còn sống trong chiến tranh, chết chóc, bệnh tật, nghèo đói, thiên tai triền miên; là thời đại cách mạng dưới ánh sáng khoa học và nhân văn của Chủ nghĩa Mác-Lênin; là thời đại con người luôn khao khát một cuộc sống hòa bình, độc lập, tự do, ấm no, hạnh phúc, ấm áp tình người. Tiếp thu sáng tạo lý luận Mác-Lênin, Hồ Chí Minh đưa ra quan điểm cách mạng toàn diện, triệt để: giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người. Giải phóng con người là mục tiêu tối cao, cuối cùng để đem lại cuộc sống tràn đầy “tình người” cho nhân loại. Sống trong thời đại như thế, không riêng gì nhà thơ, văn nghệ sĩ cách mạng, mà tất cả nhà thơ, văn nghệ sĩ trên toàn thế giới phải “xung phong” đi đầu trong cuộc đấu tranh vì độc lập tự do, vì hạnh phúc con người. Có điều là, mỗi người có cách sáng tạo riêng theo vị trí và tài năng của mình, tạo nên sự đa dạng, nhiều màu sắc của nền văn nghệ vì sự tiến bộ của loài người. Trường hợp J.P.Sartre - triết gia, nhà văn hiện sinh Pháp - ông có cách “xung phong” thật đáng trân trọng: nghiên cứu Chủ nghĩa Mác, thành lập tờ Les temps modernes để tuyên truyền ý tưởng cách mạng, ủng hộ cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa, kết án tội ác chiến tranh của đế quốc Mỹ và ủng hộ cuộc chiến đấu của nhân dân Việt Nam!

Hồ Chí Minh không có ý phê phán, phủ định “thiên nhiên đẹp” trong cổ thi. Người chỉ đưa ra cảm tưởng “cổ thi nghiêng về yêu cảnh đẹp thiên nhiên” mà thôi. Cho nên, để cho hài hòa, cân bằng, nhất là xuất phát từ đặc điểm và yêu cầu thời đại hiện nay, Người đề nghị nên có thêm chất “thép” vào trong thơ. Bổ sung chất “thép” sẽ tạo nên nét đặc sắc mới trong thơ hiện đại. Thơ sẽ tươi thêm, mạnh hơn, giúp ích cho đời nhiều hơn. Giữa “thiên nhiên” và chất “thép” cũng không hề mâu thuẫn, loại trừ lẫn nhau; mà nó luôn có quan hệ, hài hòa, bổ sung cho nhau. Một bài thơ hay là sự hòa quyện giữa “thiên nhiên” và chất “thép” đến mức độ người đọc không còn phân biệt đâu là “thiên nhiên”, đâu là chất “thép”. Thơ Hồ Chí Minh, đặc biệt là thơ trữ tình, là mẫu mực sự hài hòa giữa “thiên nhiên” và chất “thép”, giữa chất “thép” và chất “tình”. Nhà thơ Hoàng Trung Thông viết rất đúng rằng:

Vần thơ của Bác vần thơ thép
Mà vẫn mênh mông bát ngát tình.

Ngục trung nhật ký là đỉnh cao tuyệt diệu và cuối cùng của dòng thơ viết bằng chữ Hán trong nền văn học Việt Nam. Ngày 10-9-2013 này, tác phẩm tròn 70 năm. Tôi đọc lại nguyên văn chữ Hán và nhiều lời bình của các nhà nghiên cứu; ngẫm nghĩ, phát hiện thêm nhiều cái hay, cái mới của mỗi bài thơ. Riêng bài thơ Cảm tưởng đọc “Thiên gia thi” của Bác, chất tinh túy còn đọng lại trong tôi: Sống, đọc, viết, sáng tạo nghệ thuật phải gắn với cuộc đời, có tinh thần chiến đấu vì Tổ quốc và nhân dân, vì chân - thiện - mỹ và những giá trị cao cả của nhân loại!

TRẦN THƯ TRUNG

Sức lan tỏa của một hồn thơ lớn

Sức lan tỏa của một hồn thơ lớn

09/09/2013
(Tham luận Hội thảo 70 năm “Nhật ký trong tù” do Ban Tuyên giáo TW và UB Toàn quốc Liên hiệp các Hội VHNT VN  tổ chức ngày 6/9/2013 tại Hà Nội)
I. Mở đầu
Xét cả về khía cạnh khoa học lẫn thực tiễn, giá trị tư tưởng và thẩm mỹ của một kiệt tác văn chương - nghệ thuật chính là sức lan tỏa của nó trong đời sống tinh thần của cộng đồng, dân tộc và thời đại, cũng như cường lực hấp dẫn của nó đối với báo giới, nhà nghiên cứu, phê bình văn học- nghệ thuật, họa sĩ,... Kiệt tác “Nhật ký trong tù” của Chủ tịch Hồ Chí Minh là một trong số những tác phẩm hiếm hoi sẽ còn lan tỏa mãi đến xa sau cả về trường phủ sóng rộng khắp nhân quần lẫn sức hút ghe gớm đối với mọi người, mọi giới, mọi ngành trên khắp thế giới.                                                                  
II. Tỏa sáng một hồn thơ khắp muôn nơi
II.1. Điều kỳ diệu nhất là đối với bất kỳ ai đã, đang và sẽ đọc tập thơ “Nhật ký trong tù” của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong hơn nửa thế kỷ qua và cả sau này, không sớm thì muộn, cũng tìm thấy chí ít là một điều gì đó mà mình thật sự tâm đắc về tư tưởng uyên thâm của một bậc “đại nhân, đại trí, đại dũng”, tình cảm bao la của một “người cha, người bác, người anh” hoặc về tài năng nghệ thuật thi ca của một nghệ sĩ lớn hay thú tiêu dao của người mang tầm cỡ và cốt cách một bậc hiền triết phương Đông qua cách dùng từ, chơi chữ.  
Đã 70 năm trôi qua, nhưng thực chất chỉ từ năm 1960, “Nhật ký trong tù” của Chủ tịch Hồ Chí Minh mới được Viện Văn học dịch từ tiếng Hán ra tiếng Việt và cho xuất bản, công chúng nước ta mới được biết đến tác phẩm của một nhà thơ đặc biệt mang tên Hồ Chí Minh. Đặc biệt ở chỗ là lúc đầu Bác không “ham” làm thơ. Ngay ở bài mở đầu “Nhật ký trong tù” Bác đã bày tỏ rõ quan điểm của mình:
“Ngâm thơ ta vốn không ham.
Nhưng mà trong ngục biết làm chi đây.
Ngày dài ngâm ngợi cho khuây
Vừa ngâm, vừa đợi đến ngày tự do”.
Bởi vì, việc Bác dụng tâm nhất lúc bấy giờ là lãnh đạo Cách mạng Việt Nam giành độc lập tự do cho dân tộc, đem lại hạnh phúc cho nhân dân, chứ không “ham” làm thơ để trở thành thi sĩ. “Nhật ký trong tù” là cuốn sổ tay ghi chép bằng thơ những sinh hoạt của Bác và những điều Người “mục sở thị” cảnh huống trong nhà tù Tưởng Giới Thạch trong vòng hơn một năm. Nhưng gần nửa thế kỷ, kể từ khi được dịch ra tiếng Việt và xuất bản công khai, cuốn sổ ghi chép ấy, đã được hàng triệu người trên khắp thế giới đón nhận trân trọng và nồng nhiệt. Và nó thực sự đã trở thành một kiệt tác thi ca. Vậy phải chăng thơ đã tự tìm đến Bác hoặc thơ là một phẩm chất tự nhiên có sẵn trong con người Bác, khi hứng lên thơ cứ thế tuôn trào. Có lẽ là cả hai. Đấy chính là phẩm chất cốt yếu của một tài năng thi ca tầm cỡ thế giới.  
II.2. Ngay sau khi “Nhật ký trong tù” được dịch và xuất bản bằng tiếng Việt, cũng trong năm ấy, tại Matxcơva, nǎm 1960, tập thơ được dịch ra tiếng Nga, bản dịch của Paghen Antô Cônxki. Tiếp đến, năm 1962, tại Ulanbato, tập thơ đã được dịch ra tiếng Mông Cổ. Cũng nǎm 1962, tại Vácsava tập thơ được dịch ra tiếng Ba Lan. Trong nǎm này, tập thơ được dịch ra tiếng Anh, Nhà xuất bản Ngoại vǎn xuất bản tại Hà Nội, bản dịch của nữ thi sĩ người Australia Ailen Palmer. Tập thơ đã được xuất bản sáu lần. Nǎm 1963, tại Paris, nhà xuất bản Pierre Seghers, đã cho ra mắt độc giả tập “Nhật ký trong tù” bằng tiếng Pháp do luật sư Phan Nhuận dịch. Sau đó nhà xuất bản Ngoại vǎn (Hà Nội) tái bản sáu lần nữa. Nhà xuất bản Europa (Hungary) đã xuất bản tập thơ bằng tiếng Hung. Nǎm 1966, Nhà xuất bản Ngoại vǎn Hà Nội đã xuất bản “Nhật ký trong tù” bằng tiếng Quốc tế ngữ (tiếng esperanto), bản dịch của Đào Anh Kha. Tại Côpenhagen nǎm 1970, xuất bản tập thơ bằng tiếng Đan Mạch. Nǎm 1973, tập thơ được dịch ra tiếng Cezh ở Praha. Nǎm 1975, tại Zagrep (Nam Tư) tập thơ được dịch ra tiếng Nam Tư. Và đến nǎm 1976, tại Beclin, Nhật ký trong tù đã được dịch ra tiếng Đức. (1)
Vào những năm sau, tập thơ còn được nhà thơ Lào Sổmsỉ Đêxacămphu dày công nghiên cứu, dịch sang tiếng Lào và được Hội Hữu nghị Lào- Việt xuất bản năm 1990. Nhân dịp kỷ niệm 45 năm ngày thiết lập quan hệ ngoại giao Việt- Lào (1962 - 2007) và 30 năm ký kết hiệp ước hữu nghị hợp tác kinh tế- văn hoá Việt-Lào (1977- 2007), Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia tái bản có bổ sung, sửa chữa và nâng cao chất lượng dịch cuốn sách này với mong muốn giới thiệu rộng rãi hơn tập thơ với đông đảo bạn đọc Lào và Việt Nam (2).
Cũng cần phải nói thêm rằng, tập thơ sau khi được dịch ra một số thứ tiếng phổ biến như: Nga, Anh, Pháp,…từ các ngôn ngữ ấy nó được dịch ra nhiều thứ tiếng khác. Do điều kiện giao lưu phát triển và nhu cầu thưởng thức của công chúng ngày càng cao, có không ít người cảm thấy cần phải dịch lại “Nhật ký trong tù” từ nguyên tác tiếng Hán nhằm bám sát nội dung tư tưởng và giá trị nghệ thuật hơn, dù trước đây nó đã được dịch từ một ngôn ngữ trung gian. Như vậy, cho đến nay, tập thơ “Nhật ký trong tù” đã được dịch ra khoảng 30 thứ tiếng trên thế giới, kể cả tiếng Việt và năm 2012, kiệt tác này đã được Thủ tướng Chính phủ ký quyết định công nhận tập thơ là “báu vật quốc gia” cùng với một số di thư khác của Bác như “Bản Di chúc”, “Bản Tuyên ngôn độc lập”, tác phẩm “Đường Kách mệnh”, “Bản thảo Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến”.
Tập thơ “Nhật ký trong tù” bằng tiếng Việt hay các thứ tiếng khác, mỗi lần xuất bản đều với số lượng lên tới hàng chục vạn bản, chưa kể nối bản. Và có những bản dịch tái bản lên tới hơn cả chục lần. Có thể nói “Nhật ký trong tù” là một trong số những tập thơ có khối lượng phát hành thật sự khổng lồ. Nhưng đằng sau số lượng bản in, chính là sức lan tỏa của nó tới hàng triệu người trên toàn thế giới. Thử làm một phép tính thật sự đơn giản, tất cả những người Việt Nam được ngồi  trên ghế nhà trường từ cấp phổ thong đến bậc đại học, ít nhất một lần trong đời đã từng được học và được đọc “Nhật ký trong tù” và có không ít người thuộc một hay nhiều bài thơ trong tập sách đó. Ví dụ như bài thơ “Mới ra tù tập leo núi”, chẳng mấy ai không thích và không thuộc bởi cảnh cũ, người xưa vẫn còn nồng thắm, sáng trong; bởi nghị lực rèn luyện phi thường của một chiến sĩ Cộng sản, vừa được thoát khỏi cảnh lao tù của thực dân ở ngoài biên cương của Tổ quốc mình:
“Núi ấp ôm mây, mây ấp núi,
Lòng sông gương sáng, bụi không mờ;
Bồi hồi dạo bước Tây Phong lĩnh,
Trông lại trời Nam, nhớ bạn xưa.”
(NAM TRÂN dịch)
 Nước ta có gần 90 triệu dân, ước có khoảng 2/3 số người (gần 60 triệu) thuộc diện nói trên. Như thế, tập thơ “Nhật ký trong tù” chỉ tính lượng độc giả trong nước đã lên tới hàng chục triệu người, nếu tính cả độc giả nước ngoài, có thể lên tới cả trăm triệu, nên hoàn toàn có thể xếp tập thơ vào loại tác phẩm văn học kinh điển của mọi thời đại không chỉ của Việt Nam, mà còn của cả thế giới vì sức lan tỏa rộng khắp của nó.
II.3. In “Nhật ký trong tù” trên giấy trắng với công nghệ in ti-pô hay in laze là rất bình thường và rất phổ biến. Nhưng, như vậy có vẻ như chưa làm thỏa mãn được lòng tôn kính đối với Bác, tác giả tập thơ, cũng như chưa thỏa mãn sở thích tìm tòi, sáng tạo của không ít người, nên họ đã nghĩ ra những cách thể hiện độc đáo khác. Chẳng hạn như Quyển thư pháp về “Nhật ký trong tù” có kích thước 1m x 0,52m x 0,15m, với 322 trang, trọng lượng 40kg. Bìa sách được làm bằng gỗ; các góc, gáy sách và bản lề được làm bằng đồng. Đây là một công trình tập thể do họa sĩ- nghệ nhân Trần Quốc Ẩn (Nha Trang) kết hợp với các nhà thư pháp, họa sĩ, nghệ sĩ như Lê Vũ, Trần Hòa Ân, Văn Xuân Lộc (Nha Trang), Nhuận Đức, Nguyệt Đình, Phạm Kế (Huế), Nguyễn Thế Mẫn, Hồ Công Khanh, Ái Diệp, Nguyên Luân, Ngọc Thạch, Sỹ Bằng, Xuân Điềm (Đà Nẵng), Nguyễn Thanh Sơn, Trương Tuấn Dũng, Trương Tuấn Hải, Huỳnh Tuần Bá, Trần Xuyên, Lý Khắc Nhu, Lý Tùng Niên, Ô Dân Phát, Trương Lộ (TP.HCM)... kỳ công thực hiện trong hơn một năm ròng. Bộ sách đã đã được trao giải “Sách độc đáo giá trị” tại Hội sách Tp. Hồ Chí Minh lần 3 (2004), tại Festival Huế 2004 được trao giải “Tinh hoa Việt Nam”, đặc biệt năm 2007 đã được xác lập Kỷ lục Việt Nam (3). Ngoài ra tập thơ còn được thể hiện trên các chất liệu khác như giấy dó, gỗ, giấy xuyên chỉ, vải giả da của Anh,…của nhiều tác giả khác. 
II.4. Đã từng có một Triệu Hoàng Giang ở xã Sơn Vi, huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ thể hiện nhiều tranh, ảnh Bác Hồ trên chất liệu đá. Đặc biệt anh đã thành công khi thể hiện “Bản Di chúc” của Người trên đá. Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã gửi thư khen ngợi, bức thư có đoạn: “Tôi rất cảm phục và cảm động trước công việc khắc đá ghi lại cuộc đời Chủ tịch Hồ Chí Minh của nghệ nhân Triệu Hoàng Giang. Đây là hành động tuyệt vời, cần được phát huy và phát triển lên một tầm cao mới”. Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Doan cũng đã gửi thư khen với một tình cảm trân trọng: “Xem tranh đá của Triệu Hoàng Giang, tôi cảm thấy như được gặp lại, nghe lại, học lại những gì Bác đã căn dặn con cháu…” (4).
Như thế, biết đâu đến một ngày đẹp trời nào đấy, chúng ta lại có thể được chiêm ngưỡng kiệt tác “Nhật ký trung tù” trên chất liệu đá? Điều ấy một lần nữa khẳng định sức lan tỏa của “Nhật ký trong tù” là không có giới hạn cả về số lượng độc giả, chất liệu, phương thức thể hiện, kiểu cách in ấn, chế tác, nghiên cứu, phẩm bình,...       
III. Tiềm ẩn nhiều giá trị cần khai sáng
III.1. Có thể nói, việc dịch thuật, in ấn, xuất bản cả trong và ngoài nước với số lượng bản sách không lồ như vậy, sức lan tỏa của “Nhật ký trung tù” là điều hoàn toàn được khẳng định, nhưng dường như đấy chỉ mới là “bề rộng” của sức lan tỏa ấy. Còn về chiều sâu thì sao?
Với một kiệt tác thi ca như “Nhật ký trung tù” chắc chắn sức lan tỏa về chiều sâu trí tuệ khoa học và xúc cảm thẩm mỹ vẫn còn tiềm ẩn nhiều điều, cuốn hút nhiều thế hệ nhà báo, nhà nghiên cứu, phê bình văn học, nhà nghiên cứu lịch sử, các nhà chế tác nghệ thuật, họa sĩ,… ngõ hầu tìm tòi, khám phá nhiều giá trị tư tưởng và thẩm mỹ còn tiềm ẩn trong kiệt tác đó. Thế nhưng, dù với sự nỗ lực hết mình về tài năng, trí tuệ, tình cảm và sức lực của một người hay một nhóm người nào đấy chắc chắn là chưa đủ, cần phải huy động sức mạnh chung của cả cộng đồng và trải qua nhiều năm tháng, khả dĩ mới có thể làm được một phần nào đó  công việc đầy khó khăn, nhưng cũng hết sức thú vị này.
Đối với một kiệt tác văn chương, không bao giờ là câu chuyện của một người và của một thời, mà nó là một hằng số giá trị bất biến của muôn người và muôn đời. Ở nước ta cũng như trên thế giới, điều này đã từng xảy ra với nhiều kiệt tác trước đây. Dường như đối với các kiệt tác văn chương càng nghiên cứu, tìm hiểu, khám phá, càng không bao giờ chạm đến đích cuối cùng.
Cho đến nay đã có hàng trăm bài báo, tạp chí, công trình nghiên cứu, luận án từ đại học đến tiến sĩ nghiên cứu tìm hiểu về tập thơ “Nhật ký trung tù” của Bác, nhưng càng ngày lại càng nảy sinh thêm những vấn đề mới, mà trong khuôn khổ một bài báo, bài tạp chí, luận án hay công trình nghiên cứu không thể nào bao quát hết và làm sáng tỏ mọi vấn đề. Chỉ riêng “hành trình nguyên tác “Ngục trung nhật ký” đã làm nảy sinh nhiều cuộc bàn thảo trên báo chí và Hội thảo khoa học.  
III.2. Nhà văn, nhà báo Hoàng Quảng Uyên quê ở Cao Bằng tự nhận mình là
“người viết sử bằng văn” đã dày công lặn lội trong nhiều năm, qua nhiều núi cao, suối sâu trong mọi điều kiện thời tiết từ Cao Bằng, Tuyên Quang đến Hà Nội và sang tận cả Trung Quốc để truy tìm tận gốc hành trình của “Ngục trung nhật ký” sau 10 năm “lưu lạc”. Cuối cùng ông đã xác định: “Dẫu chưa có một kết luận được công nhận, nhưng bài hồi ký của ông Hoàng Đức Triều đã có định hướng cho sự tìm kiếm. Bây giờ phạm vi tìm kiếm đã chuyển tới vùng đất Lam Sơn “khu trú” trong một vùng đất hẹp. Vấn đề là từ một vấn đề nhỏ như… sợi tóc làm sao chứng minh được rằng Bác Hồ đã gửi “Nhật ký trong tù” cho ông Hoàng Đức Triều ở trên lán Pác Tẻng, sau đó đến năm 1955 (mười năm sau) Bác Hồ mới được nhận lại.  Tôi đã đến Lam Sơn “khảo sát” nhiều lần, gặp nhà thơ Hoàng Triều Ân (là con trai thứ ba của ông Hoàng Đức Triều). Tồi tìm gặp ông Hoàng Đức Nam (anh trai của ông Hoàng Triều Ân). Các ông đã cung cấp thêm một số chi tiết. Ông Hoàng Triều Ân khẳng định thời gian Bác đến Lam Sơn đàm đạo thơ với ông Hoàng Đức Triều, đọc, bình giảng một số bài thơ trong quyển sổ tay giấy mềm, rồi “để quên” nơi Bác ở (lán sơ tán Pác Tẻng). Ông Hoàng Triều Ân đã dẫn tôi lên hang Ngườm Bốc, ra mỏ nước đầu nguồn, lên hang Pác Tẻng gặp một số nhân chứng…Sau những lần “khảo sát” đó, những chứng cứ, những luận chứng để “chứng minh” càng rõ dần ra, nhưng tôi vẫn chưa thật sự thỏa mãn…Nhưng sự thực vẫn là sự thực, tôi tin vào những điều mình phát hiện, cũng như tin một cách có cơ sở khoa học để chứng minh tính đúng đắn của một vấn đề,…” (5)
Đây chỉ là một trong hàng chục người đã dày công muốn hiểu rõ ngọn ngành sự thật về hành trình “lưu lạc” của “Ngục trung nhật ký”. Tuy nhiên, sự xác tín khoa học về những điều mà nhà văn Hoàng Quảng Uyên nói trên rất cần được kiểm chứng, bởi lẽ qua đoạn trích trên đây, một vài sự “hoài nghi” khoa học đã được đặt ra. Hai người con là ông Hoàng Triều Ân và Hoàng Đức Nam không phải là người trực tiếp được Bác đàm đạo thơ, mà chỉ có ông bố Hoàng Đức Triều. Mặt khác, trong các tư liệu mà Hoàng Quảng Uyên thu thập được, chưa cho thấy rõ ai là người trực tiếp giữ “quyển sổ tay giấy mềm” của Bác trong khoảng 10 năm, rồi sau đấy, ai là người đã gửi nó qua Văn phòng Chính phủ để Bác được nhận lại. Năm nhận thì có, nhưng ngày tháng nào gửi lại không rõ. Hoàng Quảng Uyên viết: “Bài hồi ký (nhất là đoạn bàn về thơ) đã hé lộ nhiều điều nếu ta thực sự nghiền ngẫm, mổ xẻ, phân tích. Thứ nhất, ông Hoàng Đức Triều là người được Bác tin cẩn trao đổi những “tâm sự thơ”. Thứ hai, quyển sổ tay giấy mềm đúng là quyền “Ngục trung nhật ký” vì Bác Hồ chỉ có độc một quyển sổ chép thơ. Thứ ba, đến lúc này “Ngục trung nhật ký” vẫn là vật “bất ly thân’ của Bác cùng Bác đến Lam Sơn…” (6). Đây có thể là những nhận xét, phán đoán khả lý nhưng chưa phải là toàn lý vì có những chỗ chưa thật sự thuyết phục. Chẳng hạn như nhà văn Hoàng Quảng Uyên cho rằng “đến lúc này (tức năm 1945- Đ.N.Y) “Ngục trung nhật ký” vẫn là vật “bất ly thân’ của Bác”, thế sao Bác lại có thể “bỏ quên” ở lán Pác Tẻng trong một lần dừng chân hay là Bác đã đích thân gửi lại cho ông Hoàng Đức Triều? Thứ nữa, “quyển sổ tay giấy mềm đúng là quyền “Ngục trung nhật ký” vì Bác Hồ chỉ có độc một quyển sổ chép thơ” là một phán đoán khá khiên cưỡng, biết đâu Bác còn có một quyển sổ tay giấy cứng chép thơ nữa thì sao?,…
Nhưng, dù sao đây cũng là một quá trình tìm tòi rất công phu của nhà văn Hoàng Quảng Uyên, nhằm tìm ra hành trình của “Ngục trung nhật ký” trước khi được dịch ra tiếng Việt và xuất bản công khai, rất đáng ghi nhận và trân trọng. Bên cạnh đó còn có hàng chục các công trình khảo cứu tìm hiểu về những người đầu tiên dịch “Ngục trung nhật ký” từ tiếng Hán ra tiếng Việt, từ tiếng Việt ra các thứ tiếng Nga, Anh, Pháp và từ các thứ tiếng ấy ra các ngôn ngữ khác trong quãng thời gian hơn nửa thế kỷ qua.
III.3. Giáo sư Huệ Chi đánh giá cao bản dịch “Nhật ký trong tù” của nhà thơ, dịch giả Nam Trân cũng như nhà thơ Khương Hữu Dụng đánh giá cao bản dịch đầu của hai ông Văn Trực (Phạm Văn Bình) và Văn Phụng. Trong một bài nghiên cứu của mình, Giáo sư Huệ Chi cho rằng: “Thử nghĩ xem, trong vòng hai tháng- trong khi lẽ ra phải là hai năm hoặc lâu hơn nữa - một tập thơ 133 bài chọn dịch 114 bài đã được chuyển ngữ nghiêm chỉnh ra thơ mà ảnh hưởng của nó trong năm 1960 và nhiều năm về sau như nhiều người đều chứng giám: làm lay động sâu sắc tâm hồn bạn đọc thuộc nhiều thế hệ, nhiều tầng lớp xã hội, với số lượng cụ thể của lần in thứ nhất 45 vạn bản in phổ thông và 2 vạn bản in có kèm chữ Hán được bán hết và phải nối bản ngay trong cùng năm đó. Vấn đề đặt ra ở đây là: chỉ nói về phía bản dịch chứ không nói uy tín của tác giả Hồ Chí Minh đối với tập thơ, thì ai là người đóng vai trò quyết định thành công tốt đẹp và nhanh chóng thần kỳ đến thế? Những năm sách mới ra mắt, ngoài các cán bộ Viện Văn học và một số nhà thơ, nhà văn nào đấy quen biết với Viện, một số vị lãnh đạo ở Ban Tuyên giáo trung ương, câu hỏi này hầu như không ai rõ. Còn ngày nay thì chúng ta đều biết đó là công lao của Nam Trân, một nhà thơ có danh trong làng thơ mới, cũng là một trí thức có cả vốn Hán học lẫn vốn Tây học sâu rộng. Có thể nói, Nam Trân đã lĩnh nhận một nhiệm vụ rất khó khăn trong phạm vi một thời gian quá hạn hẹp, nhưng bằng nỗ lực và tâm huyết phi thường không một ai sánh kịp, bằng sự cảm thụ thơ tinh tế và tài năng của một nhà thơ đích thực, ông đã biến nhiệm vụ chính trị gian khổ kia thành niềm hứng thú trọn vẹn. Hơn đâu hết, trong phạm vi công việc dịch gấp gáp khẩn trương Ngục trung nhật ký có lẽ đã bắt ông làm ngày làm đêm liền trong hai tháng, Nam Trân đã chứng tỏ cái quy luật sau đây muôn đời vẫn đúng: dịch bao giờ cũng là đồng sáng tạo”. (7)
Ngoài việc ghi công đầu cho nhà thơ- dịch giả Nam Trân, qua ý kiến của Giáo sư Huệ Chi, chúng tôi thấy một vấn đề mới đáng chú ý là khả năng khơi nguồn cảm hứng sáng tạo của “Nhật ký trong tù” không chỉ đối với riêng dịch giả- nhà thơ tài hoa của Phong trào thơ Mới, Nam Trân, khiến ông có thể hoàn thành một công việc mà không phải ai cũng có thể làm được. Nhưng có những người cũng bắt nguồn từ “Nhật ký trong tù” mà sáng tạo nên những tác phẩm cho riêng họ có giá trị và rất đáng ghi nhận.
IV. Thay cho lời kết
Chiều sâu sự lan tỏa của “Nhật ký trong tù” còn thể hiện ở chỗ khiến cho nhiều người không bằng lòng với các bản in trên giấy trắng, bằng tiếng Việt phổ thông, nên đã đi tìm những cách thể hiện bằng chữ thư pháp, trên nhiều chất liệu khác nhau, thậm chí trên đá, đặng “vĩnh hằng hóa” kiệt tác thi ca này của Bác. Rồi nhiều người lại không bằng lòng với việc dịch “Nhật ký trong tù” qua một ngôn ngữ trung gian, cũng như nhiều người chưa thật sự bị thuyết phục bởi những đoạn “tạm kết” của nhà văn Hoàng Quảng Uyên, những nhận định, đánh giá công lao của dịch giả- nhà thơ Nam Trân của Giáo sư Huệ Chi,...
Và ngay trong cuộc Hội thảo này, những vấn đề cũ tưởng chừng như đã được giải quyết xong, cũng sẽ được thẩm định lại, nhiều vấn đề mới sẽ nảy sinh và được bàn luận sôi nổi. Đấy là sức lan tỏa của một kiệt tác thi ca khiến tất cả chúng ta luôn cảm thấy bất ngờ và thú vị.
Ở khía cạnh này, chính tập thơ đã tạo nguồn cảm hứng, làm tiền đề cho các quá trình khám phá, sáng tạo mới đối với các nhà báo, nhà khoa học, nghệ thuật,…cũng như bất kỳ ai yêu mến và cảm phục trước một tâm hồn thơ lớn Hồ Chí Minh và kiệt tác của Người mang tên “Nhật ký trong tù”./.

Hà Nội, ngày 29/8/2013
Đ.N.Y

“Nhật ký trong tù” – 70 năm sáng mãi tinh thần lạc quan của Bác

“Nhật ký trong tù” – 70 năm sáng mãi tinh thần lạc quan của Bác


– Ngày 10/9 là một ngày đáng nhớ khi cách đây 70 năm, đó là ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh viết bài thơ cuối cùng của tập Nhật ký trong tù, khép lại chặng đường dài hơn 1 năm bị tù ngục gian khổ tại Quảng Tây, Trung Quốc.
“Nhật ký trong tù” là một tác phẩm văn học gồm 133 bài thơ bằng chữ Hán của Chủ tịch Hồ Chí Minh viết từ ngày 29/8/1942 đến ngày 10/9/1943. Tập thơ chỉ là một quyển sổ tay nhỏ, bìa xanh đã bạc màu, có ghi bốn chữ "Ngục trung nhật ký" (tức Nhật ký trong tù) kèm theo bốn câu thơ và một hình vẽ hai nắm tay bị xích; bên trong là những bài thơ chữ Hán và một số ghi chép.
Ảnh minh họa


Từ năm 1960, tác phẩm này được dịch ra tiếng Việt, được nhiều người đánh giá là một thể hiện khác của con người Hồ Chí Minh qua cách nhìn là một nhà thơ. Đến nay đã được xuất bản nhiều lần, dưới nhiều hình thức khác nhau, được dịch và giới thiệu ở nhiều nước trên thế giới, nhiều lần được thể hiện bằng thư pháp tiếng Việt, tiếng Hán, tiếng Triều Tiên, tiếng Nhật... Ngày 1 tháng 10 năm 2012, Thủ tướng Chính phủ cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ra quyết định công nhận bảo vật quốc gia cho Tác phẩm "Ngục trung Nhật ký".
70 năm qua, cùng với giá trị của một áng thơ bất hủ mà qua đó các thế hệ sau này hiểu thêm về một thế giới tâm hồn nhiều cung bậc của nhân cách Hồ Chí Minh, vẫn còn nhiều câu chuyện kể liên quan tới cuốn nhật ký này với nhiều chi tiết mới được phát hiện. Ẩn chứa trong từng câu chuyện đơn lẻ đều thể hiện sự kính trọng với một con người vĩ đại - Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Nhật ký trong tù khép lại ngày 10/9/1943, nhưng bị thất lạc mãi đến năm 1955 cuốn nhật ký mới được gửi trở lại với chủ nhân bởi một người ẩn danh.
17 năm kể từ khi cuốn nhật ký được khép lại, vào năm 1960, 114/134 bài đã được dịch sang tiếng Việt và lần đầu tiên đến được với công chúng nhân kỷ niệm 70 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ngay lập tức Nhật ký trong tù đã gây tiếng vang lớn với số lượng phát hành tới 10.000 bản - con số phát hành chưa từng có ở thời điểm ấy. Dịch tập thơ này là ông Nam Trân, ông cũng là người dịch thơ Nhật ký trong tù nhiều nhất và cũng là bản dịch được Bác coi là tốt nhất.
TS. Nguyễn Hồng Minh - cháu dịch giả Nam Trân, cho biết: “Tiêu chí thứ nhất để dịch Nhật ký trong tù, người đó phải là nhà thơ. Tiêu chí thứ hai phải là người rất giỏi tiếng Hán. Ngoài ra, người đó phải là một nhà văn hóa, thông thạo văn hóa Việt Nam , văn hóa thế giới và đặc biệt phải thông thạo văn hóa của Trung Hoa. Có thể nói ông Nam Trân hội tụ đủ những yếu tố đó và trong khoảng gần 2 tháng, ông đã hoàn thành gần như trọn vẹn bản dịch đó”.
Bằng niềm kính yêu với Chủ tịch Hồ Chí Minh, lương y Trần Văn Quảng (Hà Nội) đã cần mẫn chép lại cả tập Nhật ký trong tù trong hơn 3 tháng. Tập thơ đã được ông tặng lại cho Bảo tàng Hồ Chí Minh.
Lương y Trần Văn Quảng chia sẻ: “Lúc bấy giờ cụ Lê Xuân Hòa tuy viết chữ đẹp, nhưng mà chữ rất nhỏ. Tôi nghĩ, nếu như thế, thanh niên trông thấy cũng sợ chữ Hán, các cụ già không có kính lúp cũng không đọc được. Và từ đó, tôi đã suy nghĩ sẽ viết bằng chữ to để các cụ đọc, đặc biệt có gợi ý cho thanh niên thích học chữ Hán cũng đọc được thơ của Bác”.
70 năm qua, đã có nhiều học giả trong và ngoài nước nghiên cứu Nhật ký trong tù và họ đều khẳng định giá trị đặc biệt của tập thơ Nhật ký trong tù không chỉ về nội dung tư tưởng, nghệ thuật ngôn từ, mà còn bao trùm suốt toàn bộ tác phẩm là chủ nghĩa yêu nước, tinh thần thép ẩn bên trong tính nhân văn sâu sắc. Chỉ có duy nhất một chữ “thép”, nhưng toàn bộ tập thơ, dường như bài nào cũng có chất thép.
“Lòng yêu nước là động lực để thúc đẩy Người sáng tác, cho nên những tác phẩm và hành động của Người đều thể hiện một ý chí, một dũng khí mà trong tù người ta gọi đó là chất thép…”, Giáo sư Hà Minh Đức - nguyên Viện trưởng Viện Văn học Việt Nam nói.
Qua Nhật ký trong tù mà các thế hệ sau này mới hình dung được thế giới tâm hồn nhiều cung bậc của Chủ tịch Hồ Chí Minh và cũng là bức chân dung tự họa về Người. Cũng qua thơ, người đọc sẽ thấy được tầm vóc lớn của một chân dung vĩ đại, với khát vọng cao đẹp nhất là "Độc lập cho dân tộc và Tự do cho con người". Khát vọng ấy đã được đúc kết bằng câu nói bất hủ khắc trên đá hoa cương tại nơi an nghỉ cuối cùng của Người “Không có gì quý hơn Độc lập, Tự do”.
https://vtv.vn/trong-nuoc/nhat-ky-trong-tu-gia-tri-vuot-thoi-gian-97632.htm

Thứ Ba, 16 tháng 7, 2013

Qua đèo Ngang



Bà Huyện Thanh Quan

Qua đèo Ngang
Bước tới đèo Ngang bóng xế tà
Cỏ cây chen lá đá chen hoa
Lom khom dưới núi
tiều vài chú
Lác đác bên sông chợ mấy nhà
Nhớ nước đau lòng con quốc quốc
Thương nhà mỏi miệng cái gia gia
Dừng chân đứng lại: trời non nước
Một mảnh tình riêng ta với ta


Cảnh thu
Thấp thoáng non tiên lác đác mưa
Khen ai khéo vẽ cảnh tiêu sơ
Xanh um cổ thụ tròn xoe tán,
Trắng xoá Tràng giang phẳng lặng tờ.
Bầu dốc giang sơn, say chấp rượu,
Túi lưng phong nguyệt, nặng vì thơ
Cho hay cảnh cũng ưa người nhỉ?
Thấy cảnh ai mà chẳng ngẩn ngơ?...

Cũng có người cho rằng đây là bài thơ của nữ sĩ Hồ Xuân Hương.


Chiều hôm nhớ nhà

Vàng tỏa non tây bóng ác tà
Đầm đầm ngọn cỏ tuyết phun hoa
Ngàn mai lác đác chim về tổ
Dậm liễu bâng khuâng khách nhớ nhà
Còi mục gác trăng miền khoáng dã
Chài ngư tung gió bãi bình sa
Lòng quê một bước dường ngao ngán
Mấy kẻ chung tình có thấu là..?


Chùa Trấn Bắc
Trấn Bắc hành cung cỏ dãi dầu
Chạnh niềm cố quốc nghĩ mà đau
Mấy tòa sen rớt mùi hương ngự
Năm thức mây phong nếp áo chầu
Sóng lớp phế hưng coi đã rộn
Chuông hồi kim cổ lắng càng mau
Người xưa cảnh cũ nào đâu tá
Khéo ngẩn ngơ thay lũ trọc đầu




Ðền Trấn Võ

Êm ái chiều xuân tới Trấn đài
Lâng lâng chẳng bợn chút trần ai
Ba hồi chiêu mộ, chuông gầm sóng
Một vũng tang thuơng, nước lộn trời
Bể ái ngàn trùng khôn tát cạn
Nguồn ân trăm trượng dễ khơi vơi
Nào nào cực lạc là đâu tá
Cực lạc là đây, chín rõ mười

Nhớ Nhà

Vàng tỏa non tây, bóng ác tà
Ðầm đầm ngọn cỏ, tuyết phun hoa
Ngàn mai lác đác, chim về tổ
Dặm liễu bâng khuâng, khách nhớ nhà
Còi mục thét trăng miền khoáng dã
Chài ngư tung gió bãi bình sa
Lòng quê một bước càng ngao ngán
Mấy kẻ tình chung có thấu là

Thăng Long thành hoài cổ

Tạo hóa gây chi cuộc hí trường
Ðến nay thấm thoắt mấy tinh sương
Lối xưa xe ngựa thành thu thảo
Nền cũ lâu đài bóng tịch dương
Ðá vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt
Nước còn cau mặt với tang thương.
Ngàn năm gương cũ soi kim cổ
Cảnh đấy người đây luốn đoạn trường.

 

Hai sắc hoa ti gôn



TTKH
Hai sắc hoa ti gôn
Một mùa thu trước, mỗi hoàng hôn
Nhặt cánh hoa rơi chẳng thấy buồn
Nhuộm ánh nắng tà qua mái tóc
Tôi chờ người đến với yêu đương


Người ấy thường hay ngắm lạnh lùng
Dải đường xa vút bóng chiều phong
Và phương trời thẳm mờ sương cát
Tay vít dây hoa trắng chạnh lòng

Người ấy thường hay vuốt tóc tôi
Thở dài trong lúc thấy tôi vui
Bảo rằng: hoa giống như tim vỡ
Anh sợ tình ta cũng vỡ thôi

Thuở đó nào tôi đã hiểu gì
Cánh hoa tan tác của sinh ly
Cho nên cười đáp: Màu hoa trắng
Là chút lòng trong chẳng biến suy

Đâu biết lần đi một lỡ làng
Dưới trời đau khổ chết yêu đương
Người xa xăm quá, tôi buồn lắm!
Trong một ngày vui pháo nhuộm đường

Từ đấy thu rồi, thu lại thu
Lòng tôi còn giá đến bao giờ
Chồng tôi vẫn biết tôi thương nhớ
Người ấy, cho nên vẫn hững hờ


Tôi vẫn đi bên cạnh cuộc đời
Ái ân lạt lẽo của chồng tôi
Mà từng thu chết, từng thu chết
Vẫn giấu trong tim bóng một người

Buồn quá! Hôm nay xem tiểu thuyết
Thấy ai cũng ví cánh hoa xưa
Nhưng hồng, tựa trái tim tan vỡ
Và đỏ như màu máu thắm pha

Tôi nhớ lời người đã bảo tôi
Một mùa thu trước rất xa xôi
Đến nay tôi hiểu thì tôi đã
Làm lỡ tình duyên cũ mất rồi

Tôi sợ chiều thu phớt nắng mờ
Chiều thu, hoa đỏ rụng chiều thu
Gió về lạnh lẽo, chân mây trắng
Người ấy sang sông đứng ngóng đò

Nếu biết rằng tôi đã lấy chồng
Trời ơi, người ấy có buồn không?
Có thầm nghĩ tới loài hoa vỡ
Tựa trái tim phai, tựa máu hồng

Bài thơ thứ nhất
Thuở ấy lòng tôi thơ thới quá
Hồn thơ nguyên vẹn một trời huơng
Nhưng nhà nghệ sĩ từ đâu lại
Êm ái trao tôi một vết thương

Tai ác ngờ đâu gió lại qua
Làm kinh giấc mộng những ngày hoa
Thổi tan âm điệu du dương trước
Và tiển người đi bến cát xa

Lại ở vườn Thanh có một mình
Tôi yêu gió lạnh lúc tàn canh
Yêu trăng lặng lẽ rơi trên áo
Yêu bóng chim xa nắng lướt mành

Và một ngày kia tôi phải yêu
Cả chồng tôi nữa lúc đi theo
Những cô áo đỏ sang nhà khác
Gió hỡì làm sao lạnh rất nhiều

Từ đấy không mong không dám hẹn
Một lần gặp nữa dưới trăng nghiêm
Nhưng tôi vẫn chắc nơi trời lạ
Người ấy ghi lòng vẫn nhớ em

Ðang lúc lòng tôi muốn tạm yên
Thì ai đem lại cánh hoa tim
Cho tôi ép nốt dòng dư lệ
Nhỏ xuống thành thơ khóc chút duyên

Ðẹp gì một mảnh tình tan vỡ
Ðã bọc hoa tàn dấu xác xơ
Tóc úa giết dần đời thiếu phụ
Thì ai trông ngóng chẵng nên chờ

Viết đoạn thơ đầu lo ngại quá
Vì tôi vẫn nhớ hẹn ngày xưa
"Cố quên đi nhé câm và nín
Ðừng thở than bằng những giọng thơ"

Tôi run sợ viết lặng im nghe
Tiếng lá thu khô xiết mặt hè
Tưỡng tượng chân người len lén đến
Nhưng lòng nào dám hẹn ai về

Tuy thế tôi tin vẫn có người
Thiết tha đeo đuổi mãi than ôi
Biết đâu tôi một tâm hồn héo
Bên cạnh chồng nghiêm luống tuổi rồi

Bài thơ cuối cùng
Anh ạ, tháng ngày mau quá nhỉ !
Một mùa thu cũ một lòng đau
Ba năm ví biết anh còn nhớ
Em đã câm lời có nói đâu

Ðã lỡ thôi rồi chuyện biệt ly
Càng khơi càng thấy lụy từng ly
Trách ai đem cánh "ti-gôn" ấy
Mà viết tình em được ích gì ?

Chỉ có ba người đọc thơ riêng
Bài thơ "đan áo" của chồng em
Bài thơ đan áo nay rao bán
Cho khắp người đời thóc mách xem

Là giết đời nhau đấy biết không ?
Dưới giàn hoa máu tiếng mưa rung
Giận anh tôi viết dòng dư lệ
Là chút dư hương điệu cuối cùng

Từ nay anh hãy bán thơ anh
Và để yên tôi với một mình
Những cánh hoa lòng, hừ đã ghét
Thì đem mà đổi lấy hư vinh

Ngang trái đời hoa đã úa rồi
Từng mùa gió lạnh sắc hương rơi
Buồng nghiêm thơ thẩn hồn eo hẹp
Ði nhớ người, không muốn nhớ lời

Tôi oán hờn anh mỗi phút giây
Tôi run sợ viết bởi rồi đây
Nếu không yên được thì tôi chết
Ðêm hỡi, làm sao tối thế nầy !

Năm lại, năm qua cứ muốn yên
Mà phương trời nhớ chẳng làm quên
Và người vỡ lỡ duyên thầm kín
Lại chính là anh, anh của em

Tôi biết làm sao được hỡi trời!
Giận anh không nỡ nhớ không thôi
Mưa buồn mưa hắt trong lòng ướt
Sợ quá đi anh, có một người...

Ðan áo cho chồng
Chị ơi nếu chị đã yêu
Ðã từng lỡ hái ít nhiều đau thương
Ðã xa hẵn quãng đời hương
Ðã đem lòng gởi gió sương mịt mù

Biết chăng chị, mỗi mùa Ðông
Ðáng thương những kẽ có chồng như em
Vẫn  còn thấy lạnh trong tim
Ðan đi đan lại áo len cho chồng

Như con chim hót trong lồng
Hạt mưa đã rụng bên sông bơ thờ
Lưng trời nổi  tiếng tiêu sơ
Hay đâu gió đã sang bờ ly tan

Tháng ngày miễn cưỡng em đan
Kéo dài một chiếc áo len cho chồng
Như con chim hót trong lồng
Tháng ngày thương tiếc cánh hồng nơi nao

Ngoài trời hoa nắng xôn xao
Ai đem khoá chết chim vào lồng nghiêm
Ai đem lễ giáo giam em
Sống hờ trọn kiếp trong duyên trái đời

Lòng em buồn lắm chị ơi !
Trong bao ngờ vực với lời mỉa mai
Quang cảnh lạ, tháng ngày dài
Ðêm đêm nghĩ đến ngày mai giật mình.

Người vợ



Người vợ - Nguyễn Khải

Ra Hà Nội lần này tôi đã định bụng thế nào cũng tới thăm anh Trần Dần. Anh tuổi Dần, hơn tôi bốn tuổi, năm nay đã 69, nghe nói lại đau yếu nhiều. Lần cuối tôi lại thăm anh vào cuối năm 87, đi cùng với Nguyễn Minh Châu. Lúc này Châu còn khoẻ, chưa biết mình có bệnh. Chúng tôi ngồi nói chuyện với nhau cũng lâu. Chỉ có tôi hỏi, ông Dần nói, còn Châu không bắt chuyện mấy, chỉ ừ ào có ý không thích. Vì ông Dần có tính hay dạy đời, nói chủ thuyết này trường phái nọ. Thế là Châu không thích. Nhưng tôi thì chịu được. Tôi vốn không thích văn anh, không thích từ ngày đọc Người Người Lớp Lớp. Còn thơ anh nhiều người cho là rất hay nhưng lại không thuộc cái tạng của tôi. Nhưng tôi luôn luôn nể anh, trọng anh vì cái số sao mà vất vả. Cũng là vất vả vì nghề. Tôi cũng còn thích cả cái tính của anh nữa. Anh luôn xem tôi là thằng đàn em, hệt như hồi chúng tôi mới biết nhau, cách đây đã 38 năm. Sau này tôi muốn làm gì ở Hội cũng mặc, anh không cần biết, với anh tôi chỉ là thằng K., à, thằng K. nó viết cũng được được. Có một lần tôi đạp xe đến Hội, qua hồ Thiền Quang, nghe một tiếng gọi: “K!”. Tôi dừng xe nhìn ngơ ngác, ông Dần đã ngồi ở một hàng nước, đưa tay vẫy. Tôi quay xe lại, ngồi xuống cạnh anh. Anh hỏi: “Cậu có tiền không?” – “Có” – “Gọi cho mình chén rượu.” Tôi uống nước trà còn anh uống rượu nhắm với lạc rang. Được hai chén, đã hơi ngà ngà, anh nhìn tôi rồi bảo: “Này cậu cố gắng lên, bọn mình hy vọng rồi ra cậu sẽ thành một tác giả.” Tôi nóng mặt vì sung sướng. Được Trần Dần khen có dễ đâu. Về anh Trần Dần tôi nghĩ thế cũng là xong, là đã hoàn tất một sự nghiệp, có ưu có khuyết, có thành có bại như mọi kiếp người. Anh chả còn gì để tôi phải thắc mắc. Nhưng vợ anh vẫn làm tôi thắc mắc vì đã nhiều chục năm tôi được nghe nói về chị, và mỗi lần được nghe chuyện về chị, tôi lại muốn ứa nước mắt vì thương cảm. Vì cái ông Trần Dần vẫn thường kêu rên rằng Nhà nước làm khó ông nhưng ông còn làm khó cho vợ gấp trăm lần. Nhiều người nói ông hay chửi vợ. Con em họ tôi được mắt thấy, tai nghe ông đập bàn, chỉ tay vào mặt vợ mà quát: “Con ác phụ! ”. Lê Đạt kể chuyện có dạo Trần Dần bị liệt, chạy chữa mãi mới tập tễnh đi lại được, nhưng lười, không chịu tập đi hàng ngày, chỉ thích ngồi ro ró một chỗ hút thuốc lào. Lê Đạt bảo vợ Trần Dần: “Bà phải bắt ông ấy tập đi chứ!”. Chị cười nói vui: “Ông ấy là cường hào ác bá, Đảng và Chính phủ còn chả bắt buộc được huống là tôi.”
Tôi đến thăm anh chị Trần Dần vào một buổi sáng. Tôi gõ cửa, phải đợi đến mươi phút mới thấy chị Khuê, vợ anh Dần ra mở. Hình như chị vừa lau rửa cho anh, thấy ông một tay ôm quần, cúi lom khom bước ra chỗ ngồi quen thuộc. Cách nhau năm, sáu năm cũng là một thời gian dài với người đã lớn tuổi, râu tóc xù lên trắng như bông, thoạt nhìn không nhận được ra, nhưng đôi mắt thì vẫn như cũ, con mắt hiếp đáp thiên hạ. Chị Khuê đứng cạnh chồng, trỏ tay vào tôi nói rất to, chả lẽ ông này cũng đã nặng tai:
– Ông còn nhớ ông này là ai không?
Chán mớ đời, đến thăm ông anh nhưng ông ta lại không nhận ra mình, buồn quá! Đúng là không nhận ra thật. Con mắt nhìn tôi một thoáng, không biểu lộ ngạc nhiên hay vui mừng, con mắt vô hồn: “Ờ, ờ...”. Vợ anh lại hét lên: “Ờ ờ cái gì, là ai thì ông nói đi!” Lại liếc nhìn một lần nữa rồi anh lê người ngồi vào ghế, đầu vẫn cúi, loay hoay cầm cái điếu cày. Tôi đưa bao thuốc mời anh, anh rút một điếu, cũng chả nói chả rằng, vừa hút thuốc vừa cúi mặt đọc một tờ tạp chí gì đó. Đã lâu tôi có hỏi anh Lê Đạt: “Dạo này ông Trần Dần có viết gì không?”. Lê Đạt cười: “Viết cái con khỉ. Có còn biết mình là ai mà viết”. Thôi, một đời viết được như thế cũng là nhiều. Nghỉ cũng được... Giả thử bây giờ có còn viết thì duyên sắc chắc cũng không được như xưa, một thời đã qua rồi, những tài năng của một thời cũng qua rồi. Suốt buổi, anh vừa hút thuốc, vừa đọc báo, coi như không có tôi, coi như không có cả chính mình. Còn tôi thì ngồi nói chuyện với chị Khuê. Chị đã già nhiều, mập ra nhưng vẫn còn cái đẹp của ngày xưa. Chị bảo: “Cái nhà này cả ngày chỉ có tôi với ông ấy thôi. Đi đâu thì khoá cửa, nhưng cũng chỉ dám đi một chốc một lát, không dám ở ngoài lâu. Như nuôi con mọn, con mọn còn gửi được nhà trẻ, chồng già lại bệnh thì biết gửi ai được! ”. Tôi hỏi: “Mấy năm nay nhà mình đã dễ chịu chưa?” Chị cười: “Bây giờ tôi ngủ được cả đêm. Chả phải lo gì cả. Nhất là không phải lo tiền”. Bây giờ thằng Trần Trọng Vũ, thằng con út của anh chị đang học vẽ ở Pháp do Nhà nước cử đi. Nó đã có tranh triển lãm được bạn bè khen, lại vẽ thêm quảng cáo nên cũng có tiền gửi về mua thuốc cho bố. Chỉ tiếc tới ngày dư đủ, mọi sự cởi mở, dễ dãi để ông Dần yên tâm ngồi viết thì ông ấy lại ra thế kia. Thế gian ít có chuyện gì hoàn toàn được anh nhỉ? Được cái này thì mất cái nọ. Nhưng vẫn là có được. Chứ như mấy chục năm qua... Mấy chục năm qua với chị có bao nhiêu là chuyện hãi hùng. Nhưng chị sợ nhất, bây giờ nghĩ lại vẫn còn sợ, là vào một buổi tối, thằng con trai lớn của chị đang học lớp trung cấp giấy ảnh Bình Minh, đột ngột chạy về, mặt mũi lợt lạt, kéo mẹ ra một góc vắng, hỏi như khóc: “Mẹ, bố làm phản động hả mẹ?”. Chị lạnh hết cả người, tay chân bỗng dưng run lẩy bẩy, nhưng chị cố trấn tĩnh, hỏi lại: “Ai bảo với con thế?” – “Thầy hiệu trưởng”. Chị nắm lấy hai bàn tay con giảng giải điềm đạm, rằng bố nó vẫn là người của Cách mạng, chỉ bị kỷ luật thôi. Bị kỷ luật từ năm nó còn chưa đẻ kia. Đã lâu lắm rồi. Nó lại hỏi vì sao bố không đi làm như mọi người. À, bố đã yếu lắm rồi nên nhận việc về nhà làm, con không thấy bố vẫn dịch sách đó sao? Chuyện hiển nhiên, nếu bố là phản động, làm sao cả ba con đều được đi học, phải không nào? Rồi chị thề với nó chị không hề nói dối nó, lớn lên rồi nó sẽ biết hết. Bố nó vẫn xứng đáng với các con, với gia đình. Còn nó phải cố học cho thật giỏi. Nhà nghèo phải học giỏi thì mới thoát khỏi cảnh nghèo. Chị vốn là cô giáo nên rất biết cái tuổi nguy hiểm, cái tuổi khủng hoảng của lứa tuổi con chị. Căm thù bố mẹ sẽ thành đứa con hư. Căm thù xã hội sẽ thành kẻ đối nghịch. Đằng nào cũng là mất con. Ngày ấy chị đã nghĩ, kỷ luật của anh Dần rồi cũng có ngày được trên xem xét lại, còn mất đứa con là mất vĩnh viễn. Chẳng những mất nó mà còn liên luỵ đến cha mẹ, ảnh hưởng xấu đến hai em.
Trong nhà này, suốt mấy chục năm, không ai cất lời nói xấu chính phủ, nói xấu xã hội hoặc nói xấu bạn bè của bố. Ông Dần muốn nói gì thì nói, nhưng mà nói ở nơi khác, còn về nhà là phải theo luật của nhà. Chẳng phải sợ ai, chỉ sợ các con hư. Chị có thể nhân nhượng, nín nhịn chồng đủ mọi chuyện nhưng dạy con là quyền của chị, chị là nhà độc tài trong lãnh vực này. Người mẹ nhận xét, thằng lớn tuy là đứa con ngoan nhưng chỉ ngoan với mẹ, còn vẫn ghét bố. Nó nhẫn nại vươn lên với lòng oán hận, oán bố, hận bố. Vì nó chỉ là đứa trẻ tầm thường với cách nghĩ tầm thường, không thể có sự cảm thông với những tai ách khó tránh của người sáng tạo. Nhưng em trai nó thì khác. Nó là một nghệ sĩ bẩm sinh. Nó thương bố và trọng bố. Giữ được sự ổn định về tinh thần trong một gia đình gặp tai nạn là khó lắm, người mẹ phải tỉnh táo, nhẫn nại từng giờ. Buổi sáng đứa trẻ nghĩ khác, tối đến có thể nó lại nghĩ khác. Trẻ con mà. Lại còn phải giữ cả sự ổn định trong cuộc sống vật chất hàng ngày nữa. Khi chồng bị mất việc, chị lập tức xin đi dạy mẫu giáo ngay, do ban đại diện khu phố bảo lãnh. Rồi làm hiệu phó, rồi dạy cấp I. Được mấy năm chị phải nghỉ vì một bên phổi đã nám đen. Chị bán hết phiếu vải của một năm được 600 đồng, mua dép nhựa bày trên mẹt cắp đi bán. Mới ra hàng còn ngú ngớ, ngày nào cũng bị bắt phạt, ngồi tại chỗ xin xỏ cũng bị phạt. Có người bắt phạt, lại có người che chở. Có một anh công an trẻ thỉnh thoảng đạp xe qua, lúc thì bảo: “Cô giáo cứ ngồi bán, không phải chạy”. Có lúc anh kêu từ xa: “Cô giáo chạy đi, họ đến đấy!”. Nước mắt dài nước mắt ngắn, mếu máo suốt ngày. Về đến nhà vẫn phải tươi tỉnh, vẫn phải nói với các con: “Hôm nay mẹ bán được”. Dẫu thiếu cơm, nhưng mỗi bữa vẫn phải dành lại một bát để bữa sau ghế. Cơm nguội ghế một bát nở ra thành mấy bát. Những mẹo vặt của người nội trợ một gia đình luôn luôn đói. Thừa cân gạo nào lại bán đi mua mắm, muối, rau và mỡ rán. Bữa nào có cá và đậu kho mặn là bữa ăn sang. Ba đứa con đi học, suốt năm học chỉ mặc có một bộ quần áo. Về học là cởi ra ngay để mặc quần áo rách làm việc nhà. Quần áo của chị cũng không còn được mấy cái lành vì phiếu vải đã bán lấy tiền đong gạo rồi. Chị sống lầm lũi, nhẫn nại với một niềm tin dai dẳng: “Sông có khúc, người có lúc, không ai sướng được mãi, cũng không ai phải khổ mãi”. Điều an ủi đối với chị là các con đều học rất giỏi. Thằng lớn lẽ ra được đi Đức để học tiếp nghề ảnh nhưng bố nó như thế nên phải ở lại. Đứa con gái đậu ba lần thi học sinh giỏi toàn miền Bắc, lần nào cũng chỉ thiếu có nửa điểm. Nó hỏi mẹ: “Tại sao thế hả, mẹ?”. Bà mẹ nuốt nước mắt, an ủi con: “Tức là con còn phải học giỏi hơn nữa”. Thằng Vũ là út, có nhiều khiếu vẽ từ nhỏ, mười ba tuổi xin vào trường trung cấp mỹ thuật, học năm năm. Nhưng nó phải khai thêm hai tuổi, tăng thêm chiều cao và thêm cả cân. Mười lăm tuổi mà nhỏ quá, gầy quá, như đứa trẻ lên mười. Vũ học năm năm trung cấp, tốt nghiệp thủ khoa, đã có tranh triển lãm được huy chương đồng. Thi tiếp vào đại học mỹ thuật. Lại học thêm năm năm. Lúc thi ra trường cũng đỗ đầu. Bài luận văn của Vũ về Chagall rất xuất sắc. Ban giám khảo ngờ rằng nó được bố gà vì nó đâu đọc được sách Pháp viết về Chagall. Lúc ấy thằng Vũ mới thưa, là nó nói, đọc và viết được tiếng Pháp. Nó học tiếng Pháp đã trên mười năm, thầy dạy là ông Nguyễn Mạnh Tường. Dạy không công vì quý mến một đứa trẻ có chí và có tài chứ tiền ăn còn chả đủ lấy tiền đâu ra học ông Tường. Lúc ấy nhà trường đang giảm biên chế nhưng vẫn giữ Vũ lại làm trợ giáo. Một tổ chức từ thiện của Pháp cho trường mỹ thuật một suất học tại Pháp. Hiệu trưởng dành luôn suất học đó cho Vũ rồi mới báo lên Bộ. Chị Khuê thở một hơi dài, nước mắt rân rấn: “Ở đời có bao nhiêu là người tốt, đến đâu cũng có những người tốt, không có họ thì chúng tôi sống sao nổi, hả anh?”. Đến cái đận đi Pháp của Vũ cũng có bao nhiêu là rắc rối. Bốn giờ sáng hôm sau lên máy bay, bảy giờ tối hôm trước lại có tin thằng bé chưa đi được. Bà mẹ lại chạy, đến khắp những nơi phải đến để van vỉ, xin cầu. Chị không nghĩ đến đồng tiền nó sẽ kiếm được nay mai mà chỉ nghĩ đến một cái tài đã được ấp ủ từ nhỏ sẽ có cơ hội bung nở. Bị ngắt cụt nó sẽ trở thành người khác, có khi còn thành tội nhân vì thất vọng, vì tuyệt vọng. Một người thường thất vọng thì sẽ lụi tàn dần, chết dần, họ tự tiêu huỷ bằng cái mòn dần. Nhưng một người tài năng thất vọng thì rất nguy hiểm, nó sẽ tự đốt trong một bùng cháy. Một tháng con chờ đợi, người mẹ hầu như không ăn không ngủ, chỉ đi thôi, chỉ nói thôi, vì đây là cả đời của một đứa con, chị đã hy sinh tất cả để có nó như hôm nay.
Tôi vẫn nghe chị nói chuyện, thỉnh thoảng lại liếc mắt nhìn sang một ông già, trước kia là Trần Dần, ngồi bất động bên cạnh. Anh vẫn cắm cúi đọc tờ tạp chí nhưng đọc gì mà không thấy giở trang. Hay lại ngủ rồi? Chợt chị dừng nói, nhìn xuống chân chồng, chỗ mặt đá bông loang loáng như có nước. Đấy, ông ấy lại tiểu tiện ướt đẫm ra rồi kìa. Cả ngày thay quần, cả ngày giặt giũ, phải những ngày trời mưa hay nồm, quần phơi giăng khắp nhà. Vẫn cười mà nói thế, mặt vẫn tươi mà nói thế, chả thấy khổ một tí nào. Chị đã quen với nhọc nhằn đến thế sao? Chả rõ văn thơ của ông bố, vẽ vời của ông con rồi ra sẽ có ích lợi gì cho đời, chuyện đó còn phải đợi. Nhưng hiển nhiên nếu không có những người vợ, những bà mẹ một đời nhẫn nhục gánh chịu mọi tai hoạ vì những người thân yêu thì thế giới này sẽ buồn thảm lắm, sẽ lạnh lẽo lắm.

Nguyễn Khải