Nam Trân

Nam Trân

Thứ Bảy, 9 tháng 2, 2013

70 năm Ngục trung nhật ký

70 năm Ngục trung nhật ký

Thứ Sáu, 08/02/2013 09:55

Ngục trung nhật ký (Nhật ký trong tù) được Bác Hồ hoàn tất từ năm 1943, đến năm 1960 thì đến với công chúng (bản dịch). Trong 23 năm ấy, bản thảo của tuyển tập này nằm ở đâu, ai giữ…? Đến nay, rất ít người biết về những chuyện này

ăm 1943 là năm Bác viết xong Ngục trung nhật ký với bài cuối cùng là bài Kết luận: Sáng suốt, nhờ ơn Hầu Chủ nhiệm,Tự do trở lại với ta rồi;Ngục trung nhật ký" từ đây dứt,Tái tạo ơn sâu, cảm tạ người (Bản dịch của Khương Hữu Dụng) Sát dưới bài là mấy dòng: "29-8-1942 10-9-1943 Hoàn" - chữ Hán, tức là Hết.
Năm 1960 là năm bản dịch Nhật ký trong tù đầu tiên ra mắt bạn đọc.
Ðầu năm 1960, khi tôi về công tác ở Viện Văn học thì viện đang trong không khí chuẩn bị cho sự ra mắt long trọng lần đầu bản dịch Ngục trung nhật ký của Chủ tịch Hồ Chí Minh nhân sinh nhật lần thứ 70 của tác giả. Trong quãng đời nghề nghiệp của mình, tôi đã từng viết và nói về sự nghiệp thơ văn của Hồ Chí Minh và về Nhật ký trong tù, thế mà mỗi lần chạm phải câu hỏi hoặc tự mình đặt câu hỏi "Ngục trung nhật ký từ đâu đến?" hay nói cho cụ thể hơn "trước khi đến Bảo tàng Cách mạng, Ngục trung nhật ký nằm ở đâu?", tôi đều tìm cách tránh câu trả lời, có khi chỉ trả lời cho qua chuyện.
Xem triển lãm “Nghệ thuật thư pháp Hàn Quốc về tác phẩm Nhật ký trong tù của Chủ tịch
Hồ Chí Minh tại Bảo tàng Hồ Chí Minh (Hà Nội). Ảnh: TTXVN
Ðại loại là có ai đó đã lưu giữ hoặc phát hiện ra Ngục trung nhật ký và đưa vào Viện Bảo tàng Cách mạng… Cố nhiên, chuyện Hồ Chí Minh làm thơ trong tù thì đã nhiều lần được tác giả nói đến, như trong Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch (1949) của Trần Dân Tiên, Vừa đi đường vừa kể chuyện (1963) của T.Lan… Hoặc kể cho Lê Tùng Sơn nghe, hồi tác giả còn ở Trung Quốc. Và về sau, trên Báo Ðồng minh số ra ngày 6-6-1946, T.S có đoạn ghi lại: "Cụ đưa cho tôi xem quyển thơ mà ít người được Cụ cho biết. Ðó là quyển sách đóng bằng giấy hàng tốt vừa, to bằng bàn tay, với nhan đề Ngục trung sinh hoạt (Cuộc sống ngục tù). Trang bìa đầu vẽ hai cánh tay bị trói do chính tay Cụ vẽ lấy. Tôi chỉ nhớ mỗi một bài đầu của cuốn sách đó"…
Nhưng còn chuyện sau khi ra tù, cuốn sổ thơ ấy được lưu giữ như thế nào thì ngoài Hồ Chí Minh, vẫn chưa có ai được biết.
Trở lại chuyện Nhật ký trong tù - bản dịch và in lần đầu tiên vào tháng 5-1960 sau một năm bận rộn của Viện Văn học. Tôi tin là những người tổ chức việc viết lại chữ Hán, phiên âm, dịch và ấn hành Nhật ký trong tù như Tố Hữu, Ðặng Thai Mai, Hoài Thanh, Phạm Phú Tiết, Nam Trân… đều biết rõ lai lịch của nó nhưng chưa ai một lần nói hoặc ghi lại đâu đó về vấn đề này. Bản dịch Nhật ký trong tù được gọi là "trọn vẹn" vào năm 1990 và được tái bản trong các năm 1993, 1995, nằm trong bộ Suy nghĩ mới về "Nhật ký trong tù" do Viện Văn học tiếp tục ấn hành thì những chi tiết xung quanh xuất xứ tác phẩm văn học này vẫn chưa sáng tỏ.
Người viết Dẫn luận và là chủ biên Suy nghĩ mới về "Nhật ký trong tù" là GS Nguyễn Huệ Chi vẫn còn để ngỏ cho câu chuyện này: "Bởi sau khi ra đời, tác phẩm đã "chìm" vào giữa bộn bề của lịch sử trong ngót 20 năm, để rồi vào giữa năm 1960 mới lại xuất hiện dưới hình thức bản dịch Nhật ký trong tù và đến tay bạn đọc rộng rãi…" (Suy nghĩ mới về "Nhật ký trong tù" ).
Cuối tháng 4-2003, khi tôi được Bộ GD-ÐT cử làm phản biện cho luận án tiến sĩ: Khảo sát văn bản "Ngục trung nhật ký" và nghiên cứu nội dung, hình thức nghệ thuật tập thơ từ góc độ nhật ký của nghiên cứu sinh Vũ Thị Kim Xuyến thì mới được sự trả lời cụ thể về câu hỏi này. Ðể làm luận án, chị Kim Xuyến đã được Viện Bảo tàng Cách mạng cho tiếp xúc trực tiếp với văn bản chữ Hán Ngục trung nhật ký. Và theo như cách viết của luận án thì văn bản đó đã được chính Chủ tịch Hồ Chí Minh giao cho Viện Bảo tàng Cách mạng vào ngày 14-9-1955. Ðây là trích dẫn trong luận án: "… ngày 14-9-1955, nhân dịp Chủ tịch Hồ Chí Minh đến duyệt nội dung triển lãm về Cải cách ruộng đất tại phố Bích Câu - Hà Nội, Người đã đưa cuốn sổ tay kèm theo thẻ dự Hội nghị Liễu Châu - Trung Quốc cho đồng chí Nguyễn Việt, trưởng ban tổ chức triển lãm, và Người nói: "Tôi có quyển sổ tay cách đây mười mấy năm, còn giữ đến bây giờ, các cô các chú xem có triển lãm được thì dùng". Và "trong hồ sơ hiện vật về cuốn sổ tay của Hồ Chí Minh có ghi rõ: Ðồng chí Trần Ngọc Chương, Phó Phòng Nghiên cứu sưu tầm - Viện Bảo tàng Cách mạng Việt Nam, đã được chứng kiến lúc Hồ Chủ tịch bàn giao cuốn sổ Ngục trung nhật ký cho Viện Bảo tàng Cách mạng Việt Nam".
Nhưng sau tất cả những dẫn liệu trên, câu trả lời về lai lịch Nhật ký trong tù vẫn chưa thật được thỏa mãn. Phải đến bài viết của Hồng Khanh với tiêu đề Niềm vui của Bác Hồ khi nhận lại bản thảo "Nhật ký trong tù", đăng trên Báo Nhân Dân số ra ngày 17-5-2003 thì vấn đề mới thật sự được sáng tỏ.
Vậy là chính Hồ Chí Minh đã giữ theo mình văn bản Ngục trung nhật ký suốt từ năm 1943, sau khi ra tù. Hoàn cảnh chuẩn bị Tổng khởi nghĩa khiến Bác phải di chuyển liên tục nên Bác đã gửi nhờ trong nhà của một đồng bào người dân tộc ở Cao Bằng… Và từ đấy, cho đến giữa 1955, sau ngày giải phóng thủ đô, cuốn sổ theo đường bưu điện lại được gửi về Văn phòng Phủ Chủ tịch để trình lên Bác. Từ đó mới tiếp tục có câu chuyện Bác chuyển giao cuốn sổ cho ban tổ chức một cuộc triển lãm…
Phong Lê

Thứ Năm, 31 tháng 1, 2013

NĂM MỚI NHỚ VỀ MỘT THỜI GIAN KHÓ


NĂM MỚI NHỚ VỀ MỘT THỜI GIAN KHÓ 

Bao cấp

Chế độ tem phiếu thời bao cấp được phân loại A,B,C... tùy theo chức vụ, mức lương, phân ra tiêu chuẩn cán bộ cao cấp, trung cấp, sơ cấp cũng lắm nhiêu khê - rằng: Ta không giàu, nhưng cũng có mức sống hơn kẻ nghèo khác. Loại "bìa" (tem phiếu) theo chế độ cao-thấp mua ở cửa hàng nào đã có sự tách biệt. Công nhân, xã viên HTX, công chức, sinh viên đại học đều được Nhà nước phân phối lương thực, thực phẩm và vải mặc "vừa đủ xài" bằng chế độ tem phiếu. Người Hà Nội một thời coi cửa hàng cung cấp Tôn Đản là chợ vua quan nên đã có đồng dao: “Tôn Đản là chợ vua quan / Đặng Dung là chợ trung gian nịnh thần / Đồng Xuân là chợ thương nhân / Vỉa hè là chợ toàn dân anh hùng”. Lại có câu đố châm biếm, nói lên sự không công bằng trong chế độ cung cấp, phân phối, có "đặc quyền đặc lợi": “Bụng to, trán hói, hay nói ba hoa, đi xe Volga, ăn gà Tôn Đản là con gì?”...


Sau gần 30 năm, đất nước Việt Nam đã thay đổi rất nhiều, nhưng những hình ảnh về thời bao cấp chắc hẳn vẫn còn sống mãi trong ký ức của nhiều người. Đối với thế hệ 8X, đặc biệt là thế hệ 9X, thật khó có thể hình dung và cảm nhận được một cách trọn vẹn về giai đoạn lịch sử này. Đây là sổ mua lương thực (sổ gạo), hồi ấy viên chức Nhà nước được cấp sổ để mua một lượng gạo nhất định trong 1 tháng. Thuật ngữ "trông như mất sổ gạo" xuất hiện trong thời kỳ này. Mất sổ gạo còn khủng khiếp hơn cả... mất tiền.





Tem mua lương thực 50 gram. Trong thời bao cấp, việc thông thương, buôn bán bị hạn chế, các gia đình chủ yếu trông chờ vào phần tem phiếu được phát để duy trì nguồn cung cấp lương thực, thực phẩm cho gia đình.






Một hình ảnh chụp ngày 5/3/1985 (không rõ tác giả), thời "Bao cấp": Hành khách (học sinh - sinh viên) tranh nhau đu bám khi đi xe khách.



Chiếc xe của Hơp tác xã vận tải 19/5 được điều chỉnh theo nhiều “sáng kiến” có hình thức rất “ấn tượng” đang vừa đi vừa bắt khách



Nếu có cái đài “Ri gôn đa”, "Mê lô đi a" hay “Ô ri ông tông” thì hoành tráng quá.


Nếu không có đài thì đến nhà máy sẽ có người đọc báo bằng loa tự tạo
 




Những phiếu mua thịt trên sẽ được mua ở các cửa hàng thực phẩm. Cũng có thể là các cửa hàng lưu động như thế này (một quầy hàng thực phẩm ở Sài Gòn)





Quầy bán lưu động của mậu dịch quốc doanh tháng  3 - 1972






HTX mua bán phố Tràng Tiền những năm 70




Từng này người, từng ấy thịt, chia làm sao nhỉ?


Thiếu hụt của quốc doanh được bù đắp một phần của sự mạnh dạn bung ra của các tư thương.
 

Giá cả đương nhiên là đắt hơn nhiều so với giá cung cấp của quốc doanh
 


Sự phát triển theo lối tự phát, không được kiểm soát nảy sinh rất nhiều vấn đề, đặc biệt là vệ sinh an toàn thực phẩm.
    

Giá cả, “gian lận thương mại” cũng là vấn đề xảy ra thường xuyên. Mỗi con gà được nhồi bánh đúc có thể tăng tới vài lạng.
 



Nhân dân xếp hàng mua hàng Tết



Từng này con người, từng ấy hàng hóa… không biết đến lượt mình có mua được hàng hay không? Phải cố, chứ không là mất cái Tết.





Trẻ em cũng tính đến việc Tết này mình phải chuẩn bị gì? Các băng pháo được bày ở cửa hàng vỉa hè.


Các loại pháo bán ngày Tết: Pháo cối (pháo đùng), pháo con, pháo tép… bánh pháo loại nào cũng có.














Quán bia tuy mất trật tự, lộn xộn, mất vệ sinh nhưng vẫn đông khách




Một cửa hàng ăn uống



Quán ăn vỉa hè là phổ biến
  




Quán TICALOLO (Tiết canh lòng lợn) không trong tình trạng “hết lòng” phục vụ quý khách.
 


Kem đặc biệt của nhà nước: 2 hào 1 chiếc







 
Từ phố Hàng Khay nhìn về phía phố Tràng Tiền, bên phải là Bách hóa Tổng hợp – Hà nội 1973




Cửa hàng chật cứng người mua, mậu dịch viên thật vất vả

Quang cảnh những ngày giáp Tết



Mua hoa và tranh Tết nhộn nhịp, lộn xộn người và xe chen nhau…



Các ki ốt (quầy) bán hoa ở góc Hồ Gươm, chỗ ngã tư Hàng Khay – Đinh Tiên Hoàng. Các ki ốt này nay không còn nữa







Người dân đối mặt với khó khăn một cách bình thản




Bến tàu điện: bộ đội, hành khách... nhưng đông nhất là những người bán rong




Đường tàu điện đang được sửa ở đầu phố Đinh Tiên Hoàng


Tàu điện rẽ vào phố Hàng Đào
 



Tàu điện dừng ở chợ Đồng Xuân




Bám tàu điện là chuyện bình thường nếu: không có 5 xu để mua vé, tàu đông quá không có chỗ lên hoặc đơn giản là thích như vậy…


 Hình ảnh những chiếc tàu điện này mãi là một  biểu tượng của một thời gian khó, sau này xe điện bánh hơi thay thế loại tàu điện ngày trước







Phần thưởng của những hoạt động thi đua (thể thao, văn nghệ…) là những chiếc lốp.
 




Một cửa hàng bơm mực bút bi. Thời bao cấp, những chiếc bút bi được tái sử dụng nhiều lần bằng cách bơm mực vào ruột bút. Nhiều gia đình sống nhờ nghề bơm mực bút bi.
4 ngành công nghiệp "quả đấm thép" của Thủ đô thời ấy là:
Vá chín, ép săm lốp
Bơm mực, rửa bút bi
Gia công quy gai xốp
Lộn cổ áo sơ mi



NHÂN ĐÊM HÀ NỘI NHỚ CHẾ LAN VIÊN
Gia công qui gai xốp
Lộn cổ áo sơ mi
Dán vỏ nilon rách
Bơm mực bút chì bi
Đó chính là bốn cầu thơ ứng tác của Chế Lan Viên tả về tình hình kinh tế và thị trường Thủ Đô trước mặt các nhân sĩ miền Nam khi ông chuyển nhà vào thành phố Hồ Chí Minh năm 1986.
Vào những năm 80 của thời kỳ bao cấp, miền Bắc nước ta, kể cả Thủ Đô Hà Nội đều phải chịu những khó khăn về đời sống kinh tế.
Chính trong giai đoạn khó khăn như thế, xuất hiện rất nhiều những ngành nghề mà giờ đây khi nhắc đến chúng người ta như được nghe truyện cổ tích vậy.
Đó là những hệ quả của một thời kỳ thiếu thốn khi áo sơ mi mặc lâu cổ đã sờn, không có tiền may áo mới, người ta ra hiệu lộn lại cổ áo cho sang. Thế rồi những cây bút bi dùng hết mực lại được đem ra bơm lại mực mới, áo mưa rách lung tung thì cứ rách đâu vá đó. Có khi một chiếc áo mưa có đến hàng chục miếng vá, cứ  như tổ đỉa!


Bơm mực bút bi – một trong bốn đột phá của người dân thời bao cấp


Thú vị và vui nhất là bảng hiệu GIA CÔNG QUY GAI XỐP, chỉ những hiệu làm bánh quy ở Hà Nội những năm 80. Ngày ấy thường cứ đến chủ nhật là nhà nhà trứng sữa xếp hàng chờ làm bánh, chiếc bánh gai hơi cứng thơm mùi trứng là niềm vui của những đứa trẻ háu ăn.
Ngày 10/10/2007 vừa qua, đúng kỷ niệm Giải Phóng Thủ Đô, TỨ HẢI QUÁN (124/55 Âu Cơ-Tứ Liên-Tây Hồ-Hà Nội) tổ chức ĐÊM HÀ NỘI. Là một khách mời của quán, khi đến đây tôi thực sự bồi hồi xúc động khi lại được nhìn thấy những biển hiệu nói trên. Cái cảm giác như được đi trên những dãy phố Hàng Ngang, Hàng Đào, Khâm Thiên, Bà Triệu thuở nào cứ như ám ảnh, bất giác tôi nghĩ đến Chế Lan Viên, nhớ đến bốn câu thơ của ông, lòng ngậm ngùi tưởng niệm đến một nhà thơ lớn của nước ta thế kỷ 20.
Nguyễn Hạnh


Bốn nghề của cán bộ về hưu ngoài HN:


Bơm mực, rửa bút bi
Lộn cổ áo sơ mi
Gia công quy gai xốp
Lộn xích, vá xăm xe
Mấy bác già về hưu, rách việc liền mở cửa hàng bơm mực bút bi. Kính lão gài mũi, xơ-ranh, cồn, mực... Tháo đầu bút ra, rửa cồn cho sạch ống mực. Riêng bi phải tháo cẩn thận, cũng rửa cồn. Xong xuôi, nhét đầu bút vào ống, bơm mực bằng xơ-ranh rồì nhét bi vào đầu. Vậy là có bút đầy mực. Viết tàm tạm. Dưng cơ mà nét hơi nhòe (nhưng có còn hơn không!); và gài bút bi nguyên tử trên ngực hay bị để lại vết vì đầu bút không còn khít.
Ngày ấy đánh hạt bi từ Nga về ăn ra phết. Nhất là đầu bi 0,8mm (8 zem, nghe nói họ buôn vao Nam để nong vào nhẫn vàng.
- Áo quần nhất bộ, mặc quanh năm. Mồ hôi lại muối nên cổ áo cứ mòn và xơ ra. Vậy có ngay nghề "lộn cổ". Gửi bác thợ may, chỉ 15' sau ra lấy là có cổ cứng nghiêm, như mới.
- Nhà nào cũng có tiêu chuẩn bột mì, đường nhưng chả có lò làm bánh quy gai, nhất là khi nhà có đám cưới. Vậy là mang tiêu chuẩn ra thuê nhà có lò làm bánh. Đi qua lò gia công quy gai xốp thây mùi vany thơm nức mũi. Cắn miếng bánh đầu tiên mang đi gia công về mà sướng!
- Xích xe đạp đi mãi mòn trục con, đạp cứ trôi tuồn tuột. Vậy là các bác có tay nghề cơ khí với búa, đột, đe liền nhận "lộn xích". Kì cụi, nhẫn nại đột trục ra, dùng kìm xoay ngược lại nửa vòng, đóng chốt lại. Ngày cũng lộn được vài cái. Đỡ khối tiền vì mua mới đắt lắm. Còn không nghề nghiệp gì thì cứ vá xăm, lốp xe đạp cũng đủ sống.  

 Sửa xe đạp ngoài phố: Một nghề phổ biến thời bao cấp





Nghề cắt tóc thì thời nào cũng phát triển. Thông thường thì vào các HTX cắt tóc. Cũng có thể ra “vỉa hè”

Thậm chí nghề đánh máy chữ cũng đạt đến trình độ “vỉa hè”
Sửa chữa đồ da (và giả da) cũng rất phát triển


Em bé ngồi sau bây giờ tuổi còn cao hơn bà mẹ trẻ này. Nhìn hình ảnh này, chắc em cũng thấyngày xưa mẹ vất vả đưa đón em như thế nào.

 Đánh răng ngoài vỉa hè? Có gì đâu, chuyện này rất thường tình. Vỉa hè là nơi tập trung nhiều hoạt động liên quan đến mưu sinh.

 Vỉa hè là nơi sản xuất – trong ảnh là phơi lõi mũ cối.

 Vỉa hè là nơi buôn bán hàng hóa







Cửa hàng tạp hóa

Cửa hàng bán đồ kim khí này chiếm gần như trọn vẹn vỉa hè vốn đã quá nhỏ.
 
   
Nơi sản xuất và bán các hàng thủ công – trong ảnh là các dụng cụ dùng cho việc nấu rượu
 


Tận dụng một cách tối đa diện tích vỉa hè. Một diện tích nhỏ, vừa có quán nước, vừa có một cửa hàng bán đồ thờ.

 Quán bán báo kết hợp với… mỳ ăn liền











Gần như mọi sinh hoạt đều diễn ra ở vỉa hè. Giặt giũ, tắm rửa, buôn bán…

 Em bé này học bài ngay ở vỉa hè.


Diện tích quá nhỏ này cũng tạo nên một Las Vegas


 Cuộc đấu trí trên vỉa hè

Thi đấu thể thao môn đá cầu. Lưới là hai chiếc xe đạp.


 Là nơi nghỉ trưa của các cô gái
   
Trong các con hẻm, mọi hoạt động hầu như diễn ra bên ngoài.

 



Một chiếc bi đông, ca men, chiếc đồng hồ báo thức có hình con gà mái đang mổ thóc (Tất cả đều là đồ Trung Quốc), đằng sau là phiếu mua chất đốt…, nếu có những thứ này gia đình cũng là rất “cơ bản”



Một cái quạt Điện cơ, một cái quạt tai voi (của Liên Xô), một cái bếp điện Liên xô, một chồng bát sắt, một chồng bát sứ…






Trò chơi “có thưởng” tổ chức vào các ngày hội – “Trúng thưởng là trời cho”, không trúng thưởng là trò chơi” – nhưng kết quả chủ yếu vẫn là “trò chơi”




 Cảnh nhộn nhịp chợ Đồng Xuân thuở ấy









Cao thủ bóng bàn Hải Dương Nguyễn Ngọc Phan






Những bộ phim trong nước và quốc tế luôn được chiếu ở các rạp. Trước 1975, xem phim ngoài rạp vẫn là hình thức chủ yếu.
 

Khi có phim hay, nạn phe vé vẫn thường xảy ra. 




Vài nét về Nam Trân Học trò trong Quảng ra thi... Nam Trân: Con người tài hoa Một số nhà văn tuổi Mùi Hà nội, Đẹp và Thơ Đường phố Đà Nẵng mang tên danh nhân: Nhà thơ Nam Trân  

Đẹp và Thơ - Cô gái Kim Luông Anh chài tự đắc Bài hát của đại phi công Bài thơ nhất cú hay là nỗi khổ tâm của thi sĩ Bỏ quách lối thơ xưa Cánh cửa Cảnh quê Cầu bạn Chôn hoa Điếu thuốc cháy suông Đời người Eng Gặp khách đong đưa Giận khúc Nam ai Hà Nội, mưa phùn Hái hoa hồng Hồ Tịnh Tâm hay chuồn chuồn Huế, đêm hè Huế, mưa dầm Huế, ngày hè Khiêu vũ 1935 Khoá xuân Liên tưởng Một câu thơ của ông Tú Mỡ Mùa đông, cánh đồng An Cựu  Nắng thu Núi Ngự, sông Hương Ngại ngùng khi bước chân ra Sầm Sơn trường hận  Sóng bạc tình Sơn còn ướt Tiếng chuông Diệu Đế Trên núi Ngự Trước chùa Thiên Mụ Vườn cau Nam Phổ

Chuyện em Thanh (Nhặt được của rơi, trả người đánh mất) Mùa xuân trong vườn Em yêu mùa hè Sức mồ hôi Bàn tay mẹ Chớm thu Tựu trường

Những bài học về văn hóa và ngôn ngữ từ một lời cảm ơn của chủ tịch Hồ Chí Minh Nhật kí trong tù tròn bảy mươi năm (1943-2013) 70 năm Ngục trung nhật ký Kỷ niệm 70 năm "Ngục trung nhật ký": Sự trở lại của một kích thước lớn  “Nhật ký trong tù” – 70 năm sáng mãi tinh thần lạc quan của Bác 60 năm Ngày Bác Hồ viết bài cuối của tập thơ Nhật ký trong tù (10/9/1943 - 10/9/2003)  Nam Trân và bản dịch Nhật ký trong tù Sự bất hủ của Nhật ký trong tù Sức lan tỏa của một hồn thơ lớn Trở lại hành trình của nguyên tác  Ngục trung nhật ký  Nhật ký trong tù có 133 hay 134 bài ? Nhà xuất bản Văn học tiếp thu phê bình về việc tái bản Nhật ký trong tù Đọc lại bài thơ Khán “thiên gia thi” hữu cảm (Nhân 70 năm Nhật ký trong tù) Dịch thơ: nói dễ, làm khó! “Nhật ký trong tù và lời bình” hay trò đùa của nhà phê bình Lê Xuân Đức? – Kỳ 1: Tan một nguyên tác thơ Hồ Chí Minh “Nhật ký trong tù và lời bình” hay trò đùa của nhà phê bình Lê Xuân Đức? – Kỳ 2: Đạo văn để bình văn “Nhật ký trong tù và lời bình” hay trò đùa của nhà phê bình Lê Xuân Đức? – Kỳ 3: Không có chữ dạy người biết chữ “Nhật ký trong tù và lời bình” hay trò đùa của nhà phê bình Lê Xuân Đức? – Kỳ 4: Đạo đồ giả và sáng tạo nhầm Trở lại "số phận" Nhật ký trong tù Ra mắt tác phẩm “Nhật ký trong tù” của Hồ Chủ tịch ở Cộng hòa Czech Vu cáo chính trị – mập mờ học thuật

Phát huy vai trò nhân sĩ trí thức trong sự nghiệp đại đoàn kết toàn dân tộc Hội Nhà văn Việt Nam đẩy mạnh các hoạt động lý luận, phê bình văn học Văn học kháng chiến chống Pháp ở Bình Thuận 60 năm Viện văn học và tạp chí nghiên cứu văn học

 

Năm mới nhớ về một thời gian khó  Bao cấp

Ra mắt hai cuốn Sưu tập Phan Khôi: Tác phẩm đăng báo 1933-1934 và Tác phẩm đăng báo 1935 Chế Lan Viên Tấm chân tình đằng sau những tiếng cười Nữ sĩ Anh Thơ: Đa tài, đa tình, nhưng cũng đa đoan

Qua đèo Ngang Hai sắc hoa ti gôn Người vợ (Nguyễn Khải)

Một người Hà Nội- Nguyễn Khải Đi tìm cái tôi đã mất (Nguyễn Khải) Dại khôn Nguyễn Khải Hồi kí của Nguyễn Đăng Mạnh về Nguyễn Khải Muối của rừng (Nguyễn Huy Thiệp) Tuổi 50 Làm sao cho người Việt tin nhau?