Nam Trân

Nam Trân

Thứ Ba, 1 tháng 1, 2013

Sức mồ hôi



Sức mồ hôi
Thanh Tịnh

Mồ hôi mà đổ xuống đồng
Lúa mọc trùng trùng sáng cả đồi nương
Mồ hôi mà đổ xuống vườn
Dâu xanh lá tốt vấn vương tơ tằm
Mồ hôi mà đổ xuống đầm
Cá lội phía dưới, rau nằm phía trên
Mồ hôi xuống, cây mọc lên
Ăn no đánh thắng, dân yên nước giàu.

(Mồ hôi đổ xuống hoa màu
Chặn tay thằng Mỹ, dúi đầu thằng Tây
Ai ơi ra sức cấy cày
Thêm giờ lao động, bớt ngày lao đao.)


Huế đẹp, Huế thơ


Vài nét về Nam Trân Học trò trong Quảng ra thi... Nam Trân: Con người tài hoa Một số nhà văn tuổi Mùi Hà nội, Đẹp và Thơ Đường phố Đà Nẵng mang tên danh nhân: Nhà thơ Nam Trân  Người đương thời thơ mới bàn về thơ Nam Trân Nam Trân - sự gắn bó giữa không gian Huế và tâm hồn thi nhân Tìm lại Huế, Đẹp và Thơ - Giới thiệu tập thơ Nam Trân Nam Trân với Huế Hành xử và đóng góp của một trí thức yêu nước Diễn văn nhân kỷ niệm 100 năm sinh và 40 năm mất nhà thơ - dịch giả Nam Trân Người Quảng trên đất cố đô Đọc lại 'Huế, Đẹp và Thơ' của Nam Trân Kỷ niệm 100 năm ngày sinh cố nhà thơ - dịch giả Nam Trân Vài thổ âm, thổ ngữ của người Quảng "Người Xô Viết" với các nhà văn đất Quảng thời kháng chiến chống Pháp (1946-1954)

Đẹp và Thơ - Cô gái Kim Luông Anh chài tự đắc Bài hát của đại phi công Bài thơ nhất cú hay là nỗi khổ tâm của thi sĩ Bỏ quách lối thơ xưa Cánh cửa Cảnh quê Cầu bạn Chôn hoa Điếu thuốc cháy suông Đời người Eng Gặp khách đong đưa Giận khúc Nam ai Hà Nội, mưa phùn Hái hoa hồng Hồ Tịnh Tâm hay chuồn chuồn Huế, đêm hè Huế, mưa dầm Huế, ngày hè Khiêu vũ 1935 Khoá xuân Liên tưởng Một câu thơ của ông Tú Mỡ Mùa đông, cánh đồng An Cựu  Nắng thu Núi Ngự, sông Hương Ngại ngùng khi bước chân ra Sầm Sơn trường hận  Sóng bạc tình Sơn còn ướt Tiếng chuông Diệu Đế Trên núi Ngự Trước chùa Thiên Mụ Vườn cau Nam Phổ

Chuyện em Thanh (Nhặt được của rơi, trả người đánh mất) Mùa xuân trong vườn Em yêu mùa hè Sức mồ hôi Bàn tay mẹ Chớm thu Tựu trường

Những bài học về văn hóa và ngôn ngữ từ một lời cảm ơn của chủ tịch Hồ Chí Minh Nhật kí trong tù tròn bảy mươi năm (1943-2013) 70 năm Ngục trung nhật ký Kỷ niệm 70 năm "Ngục trung nhật ký": Sự trở lại của một kích thước lớn  “Nhật ký trong tù” – 70 năm sáng mãi tinh thần lạc quan của Bác 60 năm Ngày Bác Hồ viết bài cuối của tập thơ Nhật ký trong tù (10/9/1943 - 10/9/2003)  Nam Trân và bản dịch Nhật ký trong tù Sự bất hủ của Nhật ký trong tù Sức lan tỏa của một hồn thơ lớn Trở lại hành trình của nguyên tác  Ngục trung nhật ký  Nhật ký trong tù có 133 hay 134 bài ? Nhà xuất bản Văn học tiếp thu phê bình về việc tái bản Nhật ký trong tù Đọc lại bài thơ Khán “thiên gia thi” hữu cảm (Nhân 70 năm Nhật ký trong tù) Dịch thơ: nói dễ, làm khó! “Nhật ký trong tù và lời bình” hay trò đùa của nhà phê bình Lê Xuân Đức? – Kỳ 1: Tan một nguyên tác thơ Hồ Chí Minh “Nhật ký trong tù và lời bình” hay trò đùa của nhà phê bình Lê Xuân Đức? – Kỳ 2: Đạo văn để bình văn “Nhật ký trong tù và lời bình” hay trò đùa của nhà phê bình Lê Xuân Đức? – Kỳ 3: Không có chữ dạy người biết chữ “Nhật ký trong tù và lời bình” hay trò đùa của nhà phê bình Lê Xuân Đức? – Kỳ 4: Đạo đồ giả và sáng tạo nhầm Trở lại "số phận" Nhật ký trong tù Ra mắt tác phẩm “Nhật ký trong tù” của Hồ Chủ tịch ở Cộng hòa Czech Vu cáo chính trị – mập mờ học thuật

Phát huy vai trò nhân sĩ trí thức trong sự nghiệp đại đoàn kết toàn dân tộc Hội Nhà văn Việt Nam đẩy mạnh các hoạt động lý luận, phê bình văn học Văn học kháng chiến chống Pháp ở Bình Thuận 60 năm Viện văn học và tạp chí nghiên cứu văn học

Năm mới nhớ về một thời gian khó  Bao cấp

Ra mắt hai cuốn Sưu tập Phan Khôi: Tác phẩm đăng báo 1933-1934 và Tác phẩm đăng báo 1935 Chế Lan Viên Tấm chân tình đằng sau những tiếng cười Nữ sĩ Anh Thơ: Đa tài, đa tình, nhưng cũng đa đoan

Qua đèo Ngang Hai sắc hoa ti gôn Người vợ (Nguyễn Khải)

Một người Hà Nội- Nguyễn Khải Đi tìm cái tôi đã mất (Nguyễn Khải) Dại khôn Nguyễn Khải Hồi kí của Nguyễn Đăng Mạnh về Nguyễn Khải Muối của rừng (Nguyễn Huy Thiệp) Tuổi 50 Làm sao cho người Việt tin nhau?



Bàn tay mẹ



Bàn tay mẹ

Chiếc mo cau
Ruột trắng phau
Cơm chín tới
Tay mẹ xới
Ngot ngào thơm
Tay mẹ đơm
Cơm deo dẻo
Tay mẹ khéo
Nắm cho tròn
Bàn tay mẹ
Từng nấu cơm
Nuôi con khoẻ
Từ tấm bé
Lớn lên người
Mẹ yêu ơi
Mo cau trắng
Bao nhiêu nắng
Bấy nhiêu thương


Huế đẹp, Huế thơ


Vài nét về Nam Trân Học trò trong Quảng ra thi... Nam Trân: Con người tài hoa Một số nhà văn tuổi Mùi Hà nội, Đẹp và Thơ Đường phố Đà Nẵng mang tên danh nhân: Nhà thơ Nam Trân  Người đương thời thơ mới bàn về thơ Nam Trân Nam Trân - sự gắn bó giữa không gian Huế và tâm hồn thi nhân Tìm lại Huế, Đẹp và Thơ - Giới thiệu tập thơ Nam Trân Nam Trân với Huế Hành xử và đóng góp của một trí thức yêu nước Diễn văn nhân kỷ niệm 100 năm sinh và 40 năm mất nhà thơ - dịch giả Nam Trân Người Quảng trên đất cố đô Đọc lại 'Huế, Đẹp và Thơ' của Nam Trân Kỷ niệm 100 năm ngày sinh cố nhà thơ - dịch giả Nam Trân Vài thổ âm, thổ ngữ của người Quảng "Người Xô Viết" với các nhà văn đất Quảng thời kháng chiến chống Pháp (1946-1954)

Đẹp và Thơ - Cô gái Kim Luông Anh chài tự đắc Bài hát của đại phi công Bài thơ nhất cú hay là nỗi khổ tâm của thi sĩ Bỏ quách lối thơ xưa Cánh cửa Cảnh quê Cầu bạn Chôn hoa Điếu thuốc cháy suông Đời người Eng Gặp khách đong đưa Giận khúc Nam ai Hà Nội, mưa phùn Hái hoa hồng Hồ Tịnh Tâm hay chuồn chuồn Huế, đêm hè Huế, mưa dầm Huế, ngày hè Khiêu vũ 1935 Khoá xuân Liên tưởng Một câu thơ của ông Tú Mỡ Mùa đông, cánh đồng An Cựu  Nắng thu Núi Ngự, sông Hương Ngại ngùng khi bước chân ra Sầm Sơn trường hận  Sóng bạc tình Sơn còn ướt Tiếng chuông Diệu Đế Trên núi Ngự Trước chùa Thiên Mụ Vườn cau Nam Phổ

Chuyện em Thanh (Nhặt được của rơi, trả người đánh mất) Mùa xuân trong vườn Em yêu mùa hè Sức mồ hôi Bàn tay mẹ Chớm thu Tựu trường

Những bài học về văn hóa và ngôn ngữ từ một lời cảm ơn của chủ tịch Hồ Chí Minh Nhật kí trong tù tròn bảy mươi năm (1943-2013) 70 năm Ngục trung nhật ký Kỷ niệm 70 năm "Ngục trung nhật ký": Sự trở lại của một kích thước lớn  “Nhật ký trong tù” – 70 năm sáng mãi tinh thần lạc quan của Bác 60 năm Ngày Bác Hồ viết bài cuối của tập thơ Nhật ký trong tù (10/9/1943 - 10/9/2003)  Nam Trân và bản dịch Nhật ký trong tù Sự bất hủ của Nhật ký trong tù Sức lan tỏa của một hồn thơ lớn Trở lại hành trình của nguyên tác  Ngục trung nhật ký  Nhật ký trong tù có 133 hay 134 bài ? Nhà xuất bản Văn học tiếp thu phê bình về việc tái bản Nhật ký trong tù Đọc lại bài thơ Khán “thiên gia thi” hữu cảm (Nhân 70 năm Nhật ký trong tù) Dịch thơ: nói dễ, làm khó! “Nhật ký trong tù và lời bình” hay trò đùa của nhà phê bình Lê Xuân Đức? – Kỳ 1: Tan một nguyên tác thơ Hồ Chí Minh “Nhật ký trong tù và lời bình” hay trò đùa của nhà phê bình Lê Xuân Đức? – Kỳ 2: Đạo văn để bình văn “Nhật ký trong tù và lời bình” hay trò đùa của nhà phê bình Lê Xuân Đức? – Kỳ 3: Không có chữ dạy người biết chữ “Nhật ký trong tù và lời bình” hay trò đùa của nhà phê bình Lê Xuân Đức? – Kỳ 4: Đạo đồ giả và sáng tạo nhầm Trở lại "số phận" Nhật ký trong tù Ra mắt tác phẩm “Nhật ký trong tù” của Hồ Chủ tịch ở Cộng hòa Czech Vu cáo chính trị – mập mờ học thuật

Phát huy vai trò nhân sĩ trí thức trong sự nghiệp đại đoàn kết toàn dân tộc Hội Nhà văn Việt Nam đẩy mạnh các hoạt động lý luận, phê bình văn học Văn học kháng chiến chống Pháp ở Bình Thuận 60 năm Viện văn học và tạp chí nghiên cứu văn học

Năm mới nhớ về một thời gian khó  Bao cấp

Ra mắt hai cuốn Sưu tập Phan Khôi: Tác phẩm đăng báo 1933-1934 và Tác phẩm đăng báo 1935 Chế Lan Viên Tấm chân tình đằng sau những tiếng cười Nữ sĩ Anh Thơ: Đa tài, đa tình, nhưng cũng đa đoan

Qua đèo Ngang Hai sắc hoa ti gôn Người vợ (Nguyễn Khải)

Một người Hà Nội- Nguyễn Khải Đi tìm cái tôi đã mất (Nguyễn Khải) Dại khôn Nguyễn Khải Hồi kí của Nguyễn Đăng Mạnh về Nguyễn Khải Muối của rừng (Nguyễn Huy Thiệp) Tuổi 50 Làm sao cho người Việt tin nhau?



Chớm thu



Chớm thu

Sân trăng nghe đã dần phai
Lưa thưa vài hạt mưa ngoài hàng cây
Nghe trời trở gió heo may
Sáng ra vại nước rụng đầy hoa cau


Tựu trường



Tựu trường

Cứ mỗi độ thu sang
Hoa cúc lại nở vàng
Ngoài vườn hương thơm ngát
Ong bướm bay rộn ràng
Em cắp sách tới trường
Nắng tươi trải trên đường
Trời trong xanh gió mát  
Đẹp thay lúc thu sang.


Thứ Năm, 6 tháng 12, 2012

Tấm chân tình đằng sau những tiếng cười

Tấm chân tình đằng sau những tiếng cười


- Ông thường sử dụng bút danh Bút chiến đấu, và đã thực sự tuyên chiến với bao thói hư tật xấu, nhưng trong tâm trí của những bạn đồng niên và nhiều người khác, đằng sau ngòi bút hóm hỉnh này là cả một tấm chân tình. Ông luôn muốn chia sẻ với mọi người, dù chỉ bằng tiếng cười. Bài viết của Nguyễn Tý nhân kỷ niệm 104 năm ngày sinh nhà thơ trào phúng Tú Mỡ (14/3/1900).
Vài nét về nhà thơ Tú Mỡ
Tú Mỡ tên thật là Hồ Trọng Hiếu. Sinh ngày 14/3/1900 tại Hà Nội. Xuất thân trong một gia đình tiểu thủ công.
Lúc nhỏ, được học chữ Hán và chữ Quốc ngữ. Thời Pháp thuộc, sau khi đỗ bằng Thành chung, làm Thư ký ở Sở Tài chính. Kháng chiến toàn quốc bùng nổ, ông lên chiến khu tham gia kháng chiến, dùng ngòi bút tuyên truyền động viên nhân dân.
Năm 1951, được giải nhất về thơ ca của Hội Văn nghệ Việt Nam. Năm 1952, tham dự Ðại hội Anh hùng chiến sĩ thi đua toàn quốc, được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng Nhì. Từ 1954, tiếp tục sáng tác, phục vụ cuộc đấu tranh trong giai đoạn mới. Năm 1956, ông được giải nhì về thơ ca của Hội Văn nghệ Việt Nam. Năm 1957, được bầu là Phó Chủ tịch Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Việt Nam. Ông còn là Ủy viên Thường vụ Hội Nhà văn Việt Nam khóa I, II. Ông mất ngày 13/7/1976.
Tác phẩm chính: Giòng nước ngược (tập I, 1934; tập II,1941); Ðịch vận diễn ca (1949); Nụ cười kháng chiến (1952); Anh hùng vô tận (1952); Trung du cười chiến thắng; Nhà sư giết giặc (chèo); Rồng nan xuống nước (tuồng); Tấm Cám (1955); Nụ cười chính nghĩa (1958); Bút chiến đấu (1960); Ðòn bút (1962); Ông và cháu (tập thơ thiếu nhi - 1970); Thơ Tú Mỡ (thơ tuyển -1971)...
Tam chan tinh dang sau nhung tieng cuoi
Nhà thơ Tú Mỡ
Sở dĩ ông có bút danh Tú Mỡ là vì vào năm 1918, ông bắt đầu mê thơ Tản Đà và ông mến tài thơ và tính khí khái của Tú Xương, hầu như bài thơ nào của cụ Tú Xương ông đều học thuộc cả, ông tự trào rằng Tú Mỡ “Mỡ mà chẳng Mỡ”.
Năm 1915, Tú Mỡ vào học trường Bưởi. Đây là ngôi trường có nhiều học trò sau này đã trở thành các trí thức uyên bác, nhà thơ, nhà văn, nhà văn hóa nổi tiếng như Hoàng Xuân Hãn, Tạ Quang Bửu, Ngụy Như KonTum, Tôn Thất Tùng, Phan Anh, Từ Giấy, Hoàng Ngọc Phách, Nguyễn Công Hoan, Xuân Diệu. Nguyễn Đình Thi, Nam Trân, Bàng Bá Lân, Đoàn Phú Tứ, Huyền Kiêu, Nguyễn Khắc Viện, Việt Phương...
Theo Hoài Anh, Chân dung Văn học, tập I, NXB Hội Nhà văn 2001 thì: Khi ấy cậu Hiếu vốn thông minh và ranh mãnh hay trêu chọc các thầy cô giáo là Tây, đầm. Thầy Tây khi ấy không biết tiếng Việt gọi học sinh Hàn Dụng Cư là “Hàn Rụng Cu” (mọi lần thì gọi học trò bằng con số). Thầy ra khỏi, học trò cười ầm. Hiếu đứng dậy nói to: "Đó là thầy ra cho chúng ta một vế đối. Tôi xin tức cảnh đối Hàn Rụng Cu với Đỗ Quẳng Giái!”. Hiếu muốn nói đến tên anh Đỗ Quang Giai, ngồi cạnh anh Cư. Cả lớp lại phá lên cười. Cũng vì nghịch ngợm nên chỉ trong một năm, Hiếu bị mất học bổng. Hiếu còn làm nhiều thơ châm biếm các ông thầy Tây như ông Roudet và đặc cho biệt hiệu là “Rùa” rằng: "Bâng khuâng tôi nhớ cụ Rùa/Cái cổ thì rụt, cái mu lặc lè”.
Về đời thường, Tú Mỡ ít quan tâm đến việc ăn uống, chuyện kể rằng, cô con gái ông nấu cơm vừa bị nát vừa bị khê bị mẹ la, ông liền ứng khẩu "bênh" con gái rằng:
Sống - bùi, nát - dẻo, khê - thơm/Đố ai nấu được nồi cơm ba mùi. Rồi vui vẻ bảo cô con gái rằng: "Con nấu cơm thế này là chưa giỏi vì còn thiếu vị bùi".
Trong tình bạn, ông đối xử rất mực thước và chân tình. Ông chơi thân với Hoàng Ngọc Phách tác giả của tiểu thuyết Tố Tâm thời đi học thường gọi ông là thằng "Bố lếu". Năm 1973, Hoàng Ngọc Phách mắc bệnh, ông đã làm thơ tặng: Mấy lời thăm hỏi bác Song An/Có phải va li đã sẵn sàng?/ Đấy thằng "bố lếu" thơ tinh ngịch/ Đây bạn "cô le" nghĩa cũ càng/ Bác thượng thọ rồi tôi cũng thượng/ Bác ra tàu trước đệ còn khoan". Nghe xong, Hoàng Ngọc Phách cười và ít ngày sau, Hoàng Ngọc Phách trút hơi thở cuối cùng.
Khi nhà văn Nguyễn Công Hoan vào bệnh viện chữa mắt, ông làm thơ Tặng con mắt Bác Hoan và hỏi:
"Bác không tham sắc chẳng tham tài/Cái mắt sao nhìn một hóa hai/Bác gái vào thăm duy có một/Con ngươi nhìn chệch hóa thành đôi...". Và khi Nguyễn Công Hoan vào bệnh viện nằm cùng ông, hai ông đã làm thơ xướng họa với nhau, mãi đến khi Nguyễn Công Hoan mất.
Có lần Hội Nhà văn Việt Nam đã lập Ban tang lễ, nhưng lại là lễ tang hụt vì Tú Mỡ vẫn sống, ông gửi tiếng cười cảm ơn đồng nghiệp và nhắn rằng: "Lần sau có định làm tang lễ/Thì xin tổ chức đám ma vui".
  • Nguyễn Tý

Thứ Ba, 4 tháng 12, 2012

Nhật ký trong tù có 133 hay 134 bài ?

Nhật ký trong tù có 133 hay 134 bài ?



Kỷ niệm 155 năm ngày sinh Bác Hồ (1890 -2005)
Nhat ky trong tu co 133 hay 134 bai
Bản Nhật ký trong tù của NXB Chính trị - quốc gia
Nguyên tác Nhật ký trong tù (Ngục trung nhật ký, 1942= 1943) hiện đang được lưu giữ tại Bảo tàng Cách mạng. Lâu nay trong một số bài viết, có người cho rằng Nhật ký trong tù có 133 bài, có người viết 134. Vậy 133 hay 134?
Theo bà Nguyễn thị Minh Hương, Ban biên tập thông tin tư liệu Bảo tàng Hồ chí Minh, cuốn Nhật ký trong tù do nhà xuất bản Chính trị Quốc gia phát hành năm 2003 là cuốn chính xác nhất, lần đầu tiên giới thiệu toàn bộ tác phẩm, giúp độc giả có cơ sở để đối chiếu so sánh với nguyên tác.
Theo cuốn sách này, trong bản gốc bút tích Ngục trung nhật ký, Bác không đách số thứ tự và không đặt tên bài cho bốn câu "đề từ" (Thân thể ở trong lao /Tinh thần ở ngoài lao /Muốn nên sự nghiệp lớn /Tinh thần càng phải cao - Nam Trân dịch) ghi ngoài bìa cùng hai cánh tay bị xiềng xích giơ lên. Bác đánh số thứ tự bắt đầu từ bài số 1 là bài Khai quyển (Mở đầu tập nhật ký) cho đến bài cuối cùng số 133 là bài Kết luận (nằm tại trang 53 của tập thơ), dưới bài đó Người ghi:Hết /29 /8 /1942 - 10 /9/ 1943.
Như vậy, nếu tính theo cách đánh số của tác giả, thì Nhật ký trong tù chỉ có 133 bài vì bài Đề từ ở ngoài bìa không đánh số, nên không tính.
Ngay cả khi liệt kê theo nội dung, trong đó bài Đề từ, cũng được tính là một bài, thì Nhật ký trong tù cũng chỉ có 133 bài, vì bài thứ 100 có tên là Liễu Châu ngục (Nhà ngục Liễu Châu) chỉ có đầu đề, để trống, chứ không có thơ!
Tuy nhiên một số cuốn sách có tác dụng tra cứu quan trọng thì lại có sơ xuất như cuốn: "Suy nghĩ mới về Nhật ký trong tù" NXB Giáo dục; Tuyển tập văn học, tập 3, NXB Văn học 1995; Hồ Chí Minh toàn tập, tập 3, NXB Chính trị Quốc gia năm 2000… đều đánh số thứ tự các bài thơ không như tác giả, mà đánh số thứ tự tính từ ngoài bìa, vì vậy bài Khai quyển trở thành bài số 2. Các bài khác do vậy cứ đẩy lên một số, dẫn đến có cuốn có 134 bài.
Có cuốn thậm chí có 135 bài, vì đưa cả bài Tân xuất ngục học đăng sơn (Mới ra tù tập leo núi) vào. Thực tế bài này viết sau khi tác giả mới ra tù, nên không thể có trong Nhật ký trong tù.
Cuốn sách Nhật ký trong tù của nhà xuất bản Chính trị Quốc gia in năm 2003 đã tôn trọng nguyên tác, trả lại đúng thứ tự các bài của tập thơ. Hơn nữa sách còn giúp bạn đọc có căn cứ vì được tiếp xúc trực tiếp với bút tích của Người mà từ trước đến nay chưa công bố.
Theo Thể Thao và Văn hóa

Thứ Hai, 3 tháng 12, 2012

Nhà xuất bản Văn học tiếp thu phê bình về việc tái bản Nhật ký trong tù

Nhà xuất bản Văn học tiếp thu phê bình về việc tái bản Nhật ký trong tù


Sau bài viết của Báo Thanh Niên về việc tái bản tác phẩm Nhật ký trong tù: Nhà xuất bản Văn học tiếp thu phê bình Vào ngày 30/12/2003, Báo Thanh Niên nhận được thư của ông Nguyễn Văn Lưu - Giám đốc Nhà xuất bản Văn học, toàn văn như sau:
"Nhà xuất bản (NXB) Văn học xin chân thành cảm ơn Báo Thanh Niên và tác giả Nhựt Quang (Thanh Niên số 360 ngày 26/12/2003) đã nêu thiếu sót trong việc in ấn tác phẩm Nhật ký trong tù, bản in năm 2003. Chúng tôi thành thật xin lỗi bạn đọc, các dịch giả, xin lỗi cố nhà thơ Nam Trân và Giáo sư Nguyễn Huệ Chi về sai sót trên đây.
Sự việc bắt đầu từ bản in Tuyển tập văn học Hồ Chí Minh (NXB Văn học, năm 1999). Tuyển tập này do cố nhà thơ Giám đốc Lữ Huy Nguyên biên soạn, bản in lần đầu năm 1995 đúng và đầy đủ. Đến năm 1999 NXB Văn học cho tái bản. Do phải chế bản lại, nên ở bài Khai quyển phần dịch nghĩa và dịch thơ đều đúng nhưng phần chữ Hán có sai sót như quý báo đã nêu.
Ở bản in này, người sửa bài là ông Văn Thọ, tuy là chuyên viên sửa bài lâu năm (nay đã về hưu) nhưng chỉ sửa được phần chữ Việt. Phần chữ Hán, chúng tôi nhờ bà Nguyễn Kim Hưng - chuyên viên Hán Nôm xem lại. Bà Kim Hưng là phu nhân của Giáo sư Huệ Chi, công tác ở NXB Văn học từ năm 1983, vừa mới về hưu tháng 6 năm nay (2003).
Sai sót này có thể do sức khỏe của phu nhân, hoặc do lỗi rất hay gặp ở người biên tập khi xem lại bản in thử, thường đã nắm vững nội dung, đã quen thuộc ý tứ, khi xem lại bản in thử rất dễ bị lỗi. Về phía bạn đọc, xin cho chúng tôi được đổi lại sách đã mua (Tuyển tập văn học Hồ Chí Minh, 3 tập, bản in năm 1999 và Nhật ký trong tù, bản in năm 2003) để lấy bản đã sửa chữa. Xin bạn đọc gửi đến địa chỉ sau:
NXB Văn học - 18 Nguyễn Trường Tộ, Hà Nội, ĐT: (04)8294685; chi nhánh phía Nam - 290/20 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, Q.3, TP Hồ Chí Minh, ĐT: (08)8483481. Mọi chi phí gửi đi, gửi về NXB xin chịu trách nhiệm. Chúng tôi cũng đang chuẩn bị để in lại Nhật ký trong tù thật chuẩn xác vào đầu xuân Giáp Thân...
Về tác quyền của Giáo sư Huệ Chi, vì là chỗ trong nhà, dâu rể của NXB nên chúng tôi chỉ có lời nhờ phu nhân thưa lại với giáo sư mà không làm văn bản gì, nay có sơ suất, xin giáo sư lượng thứ cho. Sau khi sửa chữa lại sai sót, chúng tôi sẽ xin thực hiện đầy đủ trách nhiệm đối với giáo sư.
Nhân đây chúng tôi cũng xin được bày tỏ đôi điều còn phân vân. Dịch Nhật ký trong tù là công trình tập thể. Những người chỉ đạo và tổ chức thực hiện trước hết phải kể đến nhà thơ Tố Hữu, Giáo sư Đặng Thai Mai, nhà văn Hoài Thanh và nhà thơ Nam Trân...
Nhật ký trong tù in lần đầu năm 1960, do cố nhà thơ Nam Trân chủ trì dịch. Đến các bản in sau này, khi nhà thơ Nam Trân qua đời, Giáo sư Huệ Chi - nguyên Trưởng ban Văn học cổ cận (Viện Văn học) tiếp tục công việc của cố nhà thơ Nam Trân là lẽ đương nhiên. Chúng tôi thấy trong tổng số 135 bài của Nhật ký trong tù, cố nhà thơ Nam Trân dịch trọn vẹn 85 bài, dịch chung ở vị trí thứ nhất 16 bài, cộng hơn 100 bài gồm hơn 3.000 chữ Hán.
Phần Giáo sư Huệ Chi, dịch trọn vẹn được 11 bài, dịch chung 10 bài, gồm hơn 20 bài khoảng hơn 600 chữ Hán. Như vậy khi nói đến trách nhiệm và vinh dự "chủ trì trọn vẹn", thiết nghĩ nên tưởng nhớ đến công đầu, công lao chủ lực của cố nhà thơ Nam Trân mới là phải lẽ, thấu lý đạt tình. Đương nhiên phải ghi nhận những đóng góp lâu dài của Giáo sư Huệ Chi như đã nói trên.
Cuối cùng chúng tôi hết lòng cảm ơn Giáo sư Trần Hữu Tá đã tỏ nỗi bức xúc cho đồng nghiệp và nghiêm khắc nhắc nhở chúng tôi. Chúng tôi kính mong Giáo sư Trần Hữu Tá, Giáo sư Huệ Chi và đông đảo bạn đọc rộng lòng lượng thứ để chúng tôi có cơ hội được sửa chữa sai sót.
Xin chân thành cảm tạ!".
T.N
Việt Báo (Theo_Thanh_Nien)