Nam Trân

Nam Trân

Thứ Năm, 6 tháng 6, 2013

VĂN HỌC KHÁNG CHIẾN CHỐNG PHÁP Ở BÌNH THUẬN:



VĂN HỌC KHÁNG CHIẾN CHỐNG PHÁP Ở BÌNH THUẬN:

Để làm rõ sự đóng góp của văn học kháng chiến chống Pháp ở Bình Thuận không thể bỏ qua yếu tố địa lý tương đối đặc biệt của chiến trường khu VI nói chung và Cực Nam Trung bộ nói riêng. Là chiến trường ở rất xa Trung ương, mọi liên lạc với vùng tự do Liên khu V không mấy dễ dàng; việc trao đổi, giao lưu văn hóa với Nam Bộ gặp nhiều cách trở nên ngay từ cuộc kháng chiến chống Pháp, phong trào văn hóa văn nghệ ở Bình Thuận kể cả các hoạt động sáng tác văn học mang đậm tính chất quần chúng và tự phát. Đây là đặc điểm không thể bỏ qua khi nghiên cứu văn học Bình Thuận ở giai đoạn này.

Về mặt tổ chức, Liên đoàn văn hóa kháng chiến miền Nam Trung bộ được thành lập năm 1948 do họa sỹ Nguyễn Đỗ Cung làm Chủ tịch. Đầu năm 1949 Đại hội văn hóa kháng chiến miền Nam Trung bộ họp tại Bồng Sơn (Bình Định) để bầu ra Ban đại diện văn hóa kháng chiến Liên khu V nhằm thay thế cho Liên đoàn văn hóa kháng chiến cũ do nhà thơ Nam Trân làm Trưởng ban; nhà nghiên cứu - phê bình - dịch thuật Phan Thao làm Tổng thư ký. Theo mô hình tổ chức lúc bấy giờ, dưới Ban đại diện văn hóa có các Đoàn hội họa, Đoàn âm nhạc, Đoàn giáo dục.v.v…Riêng ở lĩnh vực văn nghệ, các Đoàn gộp lại thành Chi hội Văn nghệ Liên khu V. Ngoài Chi hội văn nghệ ở Liên khu, các tỉnh ở Nam Trung Bộ đều có phân hội văn nghệ kháng chiến tỉnh. Riêng ở Bình Thuận, năm 1949-1950 khi nhà thơ Tế Hanh từ khu V đi vào chiến trường miền Nam mới bàn đến việc tập hợp lực lượng hoạt động văn nghệ ở địa phương. Năm 1950, Minh Quốc - một cán bộ có tham gia văn nghệ ở cực Nam - được mời dự trại văn nghệ ở Thiết Đính, Bồng Sơn (Liên khu V), khi trở về có tổ chức báo cáo lại trong cuộc họp mặt văn nghệ Bình Thuận ở Triền (thuộc địa bàn huyện Hàm Thuận nay là huyện Hàm Thuận Bắc).
Đầu năm 1951, được sự ủy nhiệm của Ban Đại diện Văn hóa Liên khu V, Ban vận động thành lập Chi hội Văn nghệ Bình Thuận ra đời và lập tức ban hành “Hiệu triệu”, trong đó có đoạn viết: “…Sau 05 năm kháng địch, đồng bào trong tỉnh đã hăm hở thưởng thức và bắt đầu sáng tác văn nghệ giết giặc. Phong trào văn nghệ quần chúng đương lên. Văn nghệ sĩ phải kịp thời đứng ra hướng dẫn nhân dân và cùng nhân dân chiến đấu trên trận tuyến văn hóa…các văn nghệ sĩ cần tập hợp lại…”. Ban vận động này tồn tại và hoạt động cho đến năm 1954 - khi Hiệp định Genève được ký kết.

Tại chiến khu Bình Thuận, nhà thơ Tế Hanh đã viết nên những vần thơ chân chất mà chứa chan tình cảm, bày tỏ tấm lòng kiên trung của quân dân Bình Thuận đối với Bác Hồ kính yêu - vị cha già dân tộc - linh hồn của cuộc kháng chiến:

Bao nhiêu nỗi nhớ người dân Việt
Sâu thẳm nào hơn nhớ Bác Hồ?
Từ thuở lòng chia khu kháng chiến
Nhớ người chung với nhớ Thủ đô.
NHỚ BÁC HỒ
(Chiến khu Bình Thuận 1949-1950)

Trên dải đất miền Trung từ việc hình thành các khu kháng chiến đã dần dần hình thành lực lượng sáng tác văn nghệ, phát triển theo phương hướng dân tộc, hiện thực, nhân dân. Theo phương hướng này, văn nghệ sĩ tự nguyện nhập thân vào cuộc sống sôi động của mọi tầng lớp nhân dân, dùng tác phẩm văn, thơ của mình như một thứ vũ khí trực tiếp phục vụ kháng chiến, phục vụ nhân dân, phục vụ cách mạng với phương châm “kháng chiến hóa văn hóa” và “văn hóa hóa kháng chiến”.

So với chiến trường khu V thì hoạt động văn học ở chiến trường Bình Thuận Cực Nam có nhiều khó khăn hơn, địa phương phải tự tổ chức lấy đời sống văn hóa sao cho phù hợp với yêu cầu và đặc điểm cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện, trường kỳ. Do đó trong bối cảnh vừa làm vừa học bước đầu tất yếu không tránh khỏi sự non yếu, giản đơn, sơ lược. Sự giao lưu, trao đổi sáng tác, thông tin về tình hình văn học nghệ thuật giữa các khu kháng chiến hết sức hạn chế và cách bức cũng là một nguyên nhân khách quan làm cho đời sống văn học ở Bình Thuận giai đoạn này chưa được phong phú. Chính vì thế, hoạt động văn học trong thời kỳ này đôi khi còn bao gồm cả hoạt động biểu diễn nghệ thuật quần chúng với các thể tài cơ động, gọn nhẹ như thơ ca, hò vè được sáng tác ngay tại chỗ để tuyên truyền cho một chủ trương, chính sách cụ thể nào đó. Lực lượng tham gia sáng tác cũng hết sức đa dạng, có cả cán bộ, chiến sĩ và nhân dân. Đây là đặc điểm nổi bật trong hoạt động văn học nghệ thuật của Bình Thuận giai đoạn kháng chiến chống Pháp. Viết thế nào để quần chúng nhân dân hiểu được và thông qua việc phục vụ nhân dân ở cơ sở mà văn nghệ sĩ học tập “lời ăn, tiếng nói” giản dị, chân chất của quần chúng để đưa vào tác phẩm của mình. Quần chúng nhân dân là đối tượng phục vụ đồng thời là thước đo giá trị thực tế của từng tác phẩm văn học.

Bài thơ chiến sĩ dưới đây ghi lại một cách chân phương cảnh đổ nát, hoang tàn trong trận càn năm 1947 của giặc Pháp vào La Gàn - Bình Thạnh:


Lửa đất vườn hoang, chuối xác xơ
Cô thôn nằm chết tự bao giờ
Trăng lạnh lùng soi, hiên vắng vẻ…
Gió buồn ôm hận, cảnh trong mơ…


Máu ai loang đổ ngoài góc hẻm
Xương ai khô trắng cạnh tường xiêu
Thịt ai cháy khét bên bụi xém
Hồn ai than ngõ lạnh cô liêu…!

Khách xa dừng lại bên đường vắng
Nỗi đau không nói hết lòng thương
Nhắn ai mài kiếm trong đêm lạnh
Nhớ giữ giùm nhau một lưỡi gươm…

Về văn xuôi, có lẽ “ĐƯỜNG VỀ Ô RÔ” của Phạm Khánh Cao là tác phẩm duy nhất viết về những ngày kháng chiến chống Pháp ở Bình Thuận với nguồn tư liệu sống khá phong phú. Là một người trong cuộc nên tác giả đã gợi lên được không khí kháng chiến của cán bộ, chiến sĩ và nhân dân vùng cực Nam Trung bộ. Đặc biệt là mối quan hệ keo sơn, gắn bó giữa hai dân tộc Kinh và Chăm trên trận tuyến đánh đuổi quân Pháp xâm lược.

Trong thời gian này, ở vùng tạm chiếm có trường hợp khá đặc biệt của nhà văn, nhà báo, nhà thơ Nguyễn Ngu Í, tên thật là Nguyễn Hữu Ngư sinh ngày 20/4/1921, tại làng Tâm Tân, huyện Hàm Tân ( nay thuộc địa bàn thị xã LaGi), tỉnh Bình Thuận trong một gia đình có truyền thống yêu nước và cách mạng. Năm 1942, ông cộng tác với Nam kỳ tuần báo của Hồ Biểu Chánh, làm phụ tá thư ký tòa soạn tuần báo Thanh niên của Huỳnh Tấn Phát, tham gia Hội truyền bá Quốc ngữ, Thanh niên tiền phong ở Sài Gòn. Cách mạng Tháng Tám ông về quê Tam Tân giữ chức Thư ký Ủy ban nhân dân Cách mạng xã Tam Tân, huyện Hàm Tân. Ông bị bệnh điên, tái đi tái lại nhiều lần và mất tại Sài Gòn ngày 18.2.1979. Nguyễn Ngu Í viết khá nhiều thể loại: Văn học, lịch sử, chính trị…Các tác phẩm chính của ông chủ yếu xuất bản tại Sài Gòn từ năm 1956-1970 gồm có: Khi người chết có mặt (tập truyện), Sống và Viết (tập hợp những bài phỏng vấn văn học), Hồ Thơm Nguyễn Huệ - Quang Trung (tiểu luận), Suối bùn reo (phiếm luận viết chung với Thoại Nguyên).

Nhà văn, nhà thơ Vũ Anh Khanh tên thật là Võ Văn Khánh, quê ở Mũi Né (lúc bấy giờ thuộc địa phận huyện Hàm Thuận, nay thuộc thành phố Phan Thiết). Trước năm 1945 ông hoạt động văn học và khẳng định tên tuổi tại Sài Gòn cùng với các nhà văn, nhà báo yêu nước cùng thời như Lý Văn Sâm, Dương Tử Giang, Thẩm Thệ Hà. Tác phẩm của ông phần lớn được xuất bản trong năm 1949 với số lượng phát hành khá lớn so với thời điểm lúc bấy giờ. Về văn xuôi có thể kể những tác phẩm tiêu biểu như:

- Cây ná trắc (truyện dài - NXB Tân Việt - Sài Gòn - 1947).
- Sông máu (tập truyện ngắn - NXB Tiếng Chuông - Sài Gòn - 1949).
- Đầm Ô Rô (tập truyện ngắn - NXB Tiếng Chuông - Sài Gòn - 1949).
- Bên kia sông (NXB Tân Việt Nam - Sài Gòn - 1949).
- Nửa bồ xương khô (truyện dài - NXB Tân Việt - Sài Gòn - 1949).
- Bạc Xỉu Lìn (truyện dài - NXB Tiếng Chuông - Sài Gòn - 1949).

Về thơ, ông có trường ca “Chiến sĩ hành” và “Tha La”. Toàn bộ tác phẩm của ông đều ẩn chứa tinh thần yêu nước nồng nàn, mặc dù nó được in ấn và phổ biến giữa lòng đô thị Sài Gòn. Năm 1954, ông tập kết ra Bắc tiếp tục hoạt động văn học, được tham dự Hội nghị văn học quốc tế Á Phi ở Ấn Độ, rồi sau đó mất ở Quảng Trị năm 1956.

Như vậy, văn học kháng chiến chống Pháp ở Bình Thuận tuy hãy còn tản mạn cả về đội ngũ tác giả cũng như khối lượng tác phẩm nhưng cũng đã manh nha những đường nét chủ đạo để từ đó giúp chúng ta hình dung một cách khái quát diện mạo của nó.


* *
*
Sẽ rất thiếu sót nếu nhắc đến văn học Bình Thuận thời chống Pháp mà bỏ qua những tác phẩm do cán bộ, chiến sĩ nhân dân sáng tác tại chỗ, phục vụ kịp thời cho những chủ trương của Đảng lúc bấy giờ. Vì nhiều lý do khách quan và chủ quan nên công việc sưu tầm, tập hợp các tác phẩm nói trên chưa được thực hiện một cách đầy đủ.

Mặc dù vậy, văn học kháng chiến chống Pháp ở Bình Thuận (kể cả những tác phẩm có nội dung yêu nước, tiến bộ trong vùng tạm chiếm) cũng đã đóng góp phần khiêm tốn của mình vào thành tựu văn học chung của dải đất miền Trung, tạo tiền đề cho hoạt động văn học trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước, tiếp tục nảy nở và phát triển.

ĐỖ QUANG VINH


Huế đẹp, Huế thơ


Vài nét về Nam Trân Học trò trong Quảng ra thi... Nam Trân: Con người tài hoa Một số nhà văn tuổi Mùi Hà nội, Đẹp và Thơ Đường phố Đà Nẵng mang tên danh nhân: Nhà thơ Nam Trân  Người đương thời thơ mới bàn về thơ Nam Trân Nam Trân - sự gắn bó giữa không gian Huế và tâm hồn thi nhân Tìm lại Huế, Đẹp và Thơ - Giới thiệu tập thơ Nam Trân Nam Trân với Huế Hành xử và đóng góp của một trí thức yêu nước Diễn văn nhân kỷ niệm 100 năm sinh và 40 năm mất nhà thơ - dịch giả Nam Trân Người Quảng trên đất cố đô Đọc lại 'Huế, Đẹp và Thơ' của Nam Trân Kỷ niệm 100 năm ngày sinh cố nhà thơ - dịch giả Nam Trân Vài thổ âm, thổ ngữ của người Quảng "Người Xô Viết" với các nhà văn đất Quảng thời kháng chiến chống Pháp (1946-1954)

Đẹp và Thơ - Cô gái Kim Luông Anh chài tự đắc Bài hát của đại phi công Bài thơ nhất cú hay là nỗi khổ tâm của thi sĩ Bỏ quách lối thơ xưa Cánh cửa Cảnh quê Cầu bạn Chôn hoa Điếu thuốc cháy suông Đời người Eng Gặp khách đong đưa Giận khúc Nam ai Hà Nội, mưa phùn Hái hoa hồng Hồ Tịnh Tâm hay chuồn chuồn Huế, đêm hè Huế, mưa dầm Huế, ngày hè Khiêu vũ 1935 Khoá xuân Liên tưởng Một câu thơ của ông Tú Mỡ Mùa đông, cánh đồng An Cựu  Nắng thu Núi Ngự, sông Hương Ngại ngùng khi bước chân ra Sầm Sơn trường hận  Sóng bạc tình Sơn còn ướt Tiếng chuông Diệu Đế Trên núi Ngự Trước chùa Thiên Mụ Vườn cau Nam Phổ

Chuyện em Thanh (Nhặt được của rơi, trả người đánh mất) Mùa xuân trong vườn Em yêu mùa hè Sức mồ hôi Bàn tay mẹ Chớm thu Tựu trường

Những bài học về văn hóa và ngôn ngữ từ một lời cảm ơn của chủ tịch Hồ Chí Minh Nhật kí trong tù tròn bảy mươi năm (1943-2013) 70 năm Ngục trung nhật ký Kỷ niệm 70 năm "Ngục trung nhật ký": Sự trở lại của một kích thước lớn  “Nhật ký trong tù” – 70 năm sáng mãi tinh thần lạc quan của Bác 60 năm Ngày Bác Hồ viết bài cuối của tập thơ Nhật ký trong tù (10/9/1943 - 10/9/2003)  Nam Trân và bản dịch Nhật ký trong tù Sự bất hủ của Nhật ký trong tù Sức lan tỏa của một hồn thơ lớn Trở lại hành trình của nguyên tác  Ngục trung nhật ký  Nhật ký trong tù có 133 hay 134 bài ? Nhà xuất bản Văn học tiếp thu phê bình về việc tái bản Nhật ký trong tù Đọc lại bài thơ Khán “thiên gia thi” hữu cảm (Nhân 70 năm Nhật ký trong tù) Dịch thơ: nói dễ, làm khó! “Nhật ký trong tù và lời bình” hay trò đùa của nhà phê bình Lê Xuân Đức? – Kỳ 1: Tan một nguyên tác thơ Hồ Chí Minh “Nhật ký trong tù và lời bình” hay trò đùa của nhà phê bình Lê Xuân Đức? – Kỳ 2: Đạo văn để bình văn “Nhật ký trong tù và lời bình” hay trò đùa của nhà phê bình Lê Xuân Đức? – Kỳ 3: Không có chữ dạy người biết chữ “Nhật ký trong tù và lời bình” hay trò đùa của nhà phê bình Lê Xuân Đức? – Kỳ 4: Đạo đồ giả và sáng tạo nhầm Trở lại "số phận" Nhật ký trong tù Ra mắt tác phẩm “Nhật ký trong tù” của Hồ Chủ tịch ở Cộng hòa Czech Vu cáo chính trị – mập mờ học thuật

Phát huy vai trò nhân sĩ trí thức trong sự nghiệp đại đoàn kết toàn dân tộc Hội Nhà văn Việt Nam đẩy mạnh các hoạt động lý luận, phê bình văn học Văn học kháng chiến chống Pháp ở Bình Thuận 60 năm Viện văn học và tạp chí nghiên cứu văn học

Năm mới nhớ về một thời gian khó  Bao cấp

Ra mắt hai cuốn Sưu tập Phan Khôi: Tác phẩm đăng báo 1933-1934 và Tác phẩm đăng báo 1935 Chế Lan Viên Tấm chân tình đằng sau những tiếng cười Nữ sĩ Anh Thơ: Đa tài, đa tình, nhưng cũng đa đoan

Qua đèo Ngang Hai sắc hoa ti gôn Người vợ (Nguyễn Khải)

Một người Hà Nội- Nguyễn Khải Đi tìm cái tôi đã mất (Nguyễn Khải) Dại khôn Nguyễn Khải Hồi kí của Nguyễn Đăng Mạnh về Nguyễn Khải Muối của rừng (Nguyễn Huy Thiệp) Tuổi 50 Làm sao cho người Việt tin nhau?

Thứ Ba, 21 tháng 5, 2013

Sự bất hủ của Nhật ký trong tù

Kỷ niệm 123 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, 70 năm tác phẩm nhật ký trong tù
Sự bất hủ của Nhật ký trong tù
Thứ hai, 20/05/2013 - 01:41 AM (GMT+7)
[+] Cỡ chữ: Mặc định
 Triển lãm thư pháp Nhật ký trong tù của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Hàn Quốc năm 2010 do 25 nhà thư pháp hàng đầu của Hàn Quốc thực hiện.
70 năm Nhật ký trong tù (NKTT), đọc lại thơ Bác Hồ, quả được thấy "xích xiềng không khóa nổi lời ca", thơ Người trùm lên tâm hồn ta một bóng cây đại thụ và hiển hiện đường bay của một cánh chim bằng tự do.

Bác Hồ viết Nhật ký trong tù từ ngày 29-8-1942 đến ngày 10-9-1943 trong thời gian Người bị chính quyền Tưởng Giới Thạch bắt và giam giữ trong các nhà ngục của chúng. Nhưng trong hoàn cảnh khắc nghiệt ấy, một tiếng thơ tự do đã vút bay lên.
Một tác phẩm văn học lớn, trước hết là tác phẩm phản ánh được những nét bản chất nhất của hiện thực xã hội, thể hiện được khát vọng của cả một dân tộc, một thời đại. Hiện thực lớn nhất của nước ta lúc đó là tinh thần cách mạng sục sôi; khát vọng thiết tha nhất của dân tộc ta lúc đó: Ðộc lập. NKTT đặc biệt đã thể hiện được trái tim yêu nước bỏng cháy, tinh thần dấn thân vì sự nghiệp giải phóng dân tộc của chính tác giả, lãnh tụ của công cuộc giải phóng đó. "Một ngày tù, nghìn thu ở ngoài", bản thân Bác chịu biết bao đau khổ cay cực, nhiều lúc Bác tự khóc thương mình và khiến người đọc cũng rơi lệ; nhưng đau xót nhất của Bác vẫn là cảnh lầm than của dân tộc: Ngoại cảm trời Hoa cơn nóng lạnh/ Nội thương đất Việt cảnh lầm than (Ốm nặng). Ưu tâm nhiều nhất vẫn là công việc cách mạng: Một canh, hai canh lại ba canh/ Trằn trọc, băn khoăn, giấc chẳng thành/ Canh bốn, canh năm vừa chợp mắt/ Sao vàng năm cánh mộng hồn quanh.
Lồng lộng trong NKTT là hình ảnh của một con người tự do, một khát vọng tự do. Tự do, đó là một giá trị đầu tiên và căn bản nhất của đời sống con người. Phải nói rằng, không ai hiểu và phát biểu về tự do một cách nhất quán và sâu sắc như Chủ tịch Hồ Chí Minh. Trong "Lời kêu gọi đồng bào và chiến sĩ cả nước" ngày 17-7-1966, Người trịnh trọng tuyên bố: "...Chiến tranh có thể kéo dài 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa. Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố, xí nghiệp có thể bị tàn phá, song nhân dân Việt Nam quyết không sợ! Không có gì quý hơn độc lập, tự do! Ðến ngày thắng lợi, nhân dân ta sẽ xây dựng đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn!". "Không có gì quý hơn Ðộc lập, Tự do"! Lời nói đã thành chân lý, thành ý chí và sức mạnh của cả dân tộc trong những ngày đánh Mỹ và cho đến muôn sau. Do hoạt động cách mạng, Người đã hai lần bị cầm tù, hơn một lần bị truy bức, Người hiểu sâu sắc rằng Trên đời ngàn vạn điều cay đắng/ Cay đắng chi bằng mất tự do (Cảnh binh khiêng lợn cùng đi); Một hữu tự do chân thống khổ (Mất tự do, thật là một điều thống khổ - Hạn chế). Có thể giam cầm được thân thể nhưng không giam được tư tưởng, Hồ Chí Minh vẫn luôn thấy mình là người tự do: Tự do tiên khách trên trời, Biết đâu trong ngục có người khách tiên (Quá trưa). Bị giải đi sớm, trong cảnh bình minh, Bác nghĩ đến ngày thắng lợi cách mạng đang đến gần: Phương Ðông màu trắng chuyển sang hồng/ Bóng tối đêm tàn quét sạch không/ Hơi ấm bao la trùm vũ trụ/ Người đi thi hứng bỗng thêm nồng. Chính tinh thần lạc quan, ung dung tự tại thể hiện qua những bài thơ này, đã tạo cảm hứng cho Tố Hữu viết: Lại thương nỗi đọa đày thân Bác/ Mười bốn trăng tê tái gông cùm/ Ôi chân yếu, mắt mờ,  tóc bạc/ Mà thơ bay cánh hạc ung dung. Nhắc đến
Hồ Chí Minh là nhắc đến tự do, vì thế, Tạp chí Time của Mỹ, số tháng 10-2010 đã xếp Người là một trong mười chiến sĩ đấu tranh cho tự do nổi tiếng nhất trong mọi thời đại. Và như vậy, Người cũng là biểu tượng cho tình yêu tự do và công lý của dân tộc Việt Nam!
Một tác phẩm văn học lớn còn là một tác phẩm thể hiện tình yêu thương con người. Nếu "chất thép" - Muốn nên sự nghiệp lớn/ Tinh thần càng phải cao là một giá trị cho sự tu dưỡng ý chí, thì tình yêu thương con người mênh mông của Bác đối với mọi số phận - từ đôi vợ chồng có cảnh ngộ người trong song sắt, người ngoài song sắt mà cách nhau trời vực đến em bé nửa tuổi trong lao; từ cảnh nghèo đói của nhân dân vùng Long An - Ðồng Chính đến một người tù cờ bạc bị chết... Nếu sự tố cáo chế độ hà khắc trong tù và sự bất công trong cuộc sống là một giá trị khiến người ta bất bình, vùng lên để đấu tranh; thì sự ghi nhận những vẻ đẹp con người, vẻ đẹp của những giá trị cuộc sống khiến người ta tin tưởng, hy vọng là một giá trị khác không kém phần quan trọng. Nhiều mảng hiện thực trong NKTT là những bức tranh tuyệt sắc được vẽ nên không chỉ bằng sự tài hoa mà còn bằng cả một tâm hồn yêu sống mãnh liệt: Tới đây khi lúa còn con gái/ Gặt hái hôm nay quá nửa rồi/ Khắp chốn nông dân cười hớn hở/ Ðồng quê vang dậy tiếng ca vui (Cảnh đồng nội). NKTT không hề là tiếng nói một chiều. Giá trị nhân bản đó làm nên tính vĩnh hằng cho tác phẩm.
Nghệ thuật thơ trong NKTT là một nghệ thuật trác việt. Trong các nhà thơ Việt Nam của thế kỷ 20, không ai làm thơ chữ Hán hay và điêu luyện như Hồ Chí Minh. Chỉ những bậc túc nho mới có thể làm thơ tập cổ, tức là dựa vào một bài thơ cổ điển để phát triển những ý mới. Bài Thanh minh trong NKTT dựa theo bài Thanh minh của Ðỗ Mục, một nhà tứ tuyệt nổi tiếng thời Vãn Ðường. Nhưng nếu như Ðỗ Mục nói chuyện rượu, thì Bác nói chuyện tự do. Câu kết thật là sáng tạo Tá vấn tự do hà xứ hữu/ Vệ binh dao chỉ biện công môn (Tự do thử hỏi đâu là/ Lính canh trỏ lối thẳng ra công đường). Câu thơ đa nghĩa, sâu cay và trào lộng biết bao! Chỉ có bọn ngồi trong công đường mới có tự do! Chính vì bọn ngồi trong công đường mà không ai có tự do!
Ngoài một số bài thơ mang tầm chiến lược của một cuộc cách mạng hay một chiến dịch quân sự thiết thực cho công việc giải phóng dân tộc lúc bấy giờ như Học đánh cờ - và chính bài thơ này cũng mang chân lý phổ quát - thì  trong NKTT còn có vô số những câu thơ là sự tổng kết những quy luật của cuộc sống. Từ những tổng kết đó, có thể đem lại tinh thần lạc quan, sự rèn luyện, tu dưỡng tính cách như trong bài Tự khuyên mình: Ví không có cảnh đông tàn/ Thì đâu có cảnh huy hoàng ngày xuân/ Nghĩ mình trong bước gian truân/ Tai ương rèn luyện tinh thần thêm hăng; hay bài Giã gạo: Gạo đem vào giã bao đau đớn/ Gạo giã xong rồi trắng tựa bông/ Sống ở trên đời người cũng vậy/ Gian nan rèn luyện mới thành công. Sự vĩ đại của NKTT còn là một cái nhìn phát hiện ra sự vĩ đại trong những cái tầm thường nhất, từ cây gậy, cột cây số đến tiếng gà gáy... Viết về một cây gậy, cũng mênh mông tình Bác: Suốt đời ngay thẳng lại kiên cường/ Dìu dắt nhau đi mấy tuyết sương/ Giận kẻ gian kia gây cách biệt/ Hai ta dằng dặc nỗi buồn thương. Tình cảm lớn ấy làm nên tầm vóc, làm nên sự khác biệt Hồ Chí Minh.
NKTT chỉ có 133 bài thơ ngắn mà chứa đựng rất nhiều nội dung, nhiều đề tài; trong đó có đề tài phụ nữ và trẻ em rất đáng chú ý; có rất nhiều phong cách: phong cách trữ tình hòa lệ thành thơ khiến người đọc có thể cảm thương nhỏ lệ hoặc hưng phấn trước những vẻ đẹp bao la, nồng ấm, có phong cách trào lộng, nhiều bài có thể xếp vào hạng nhất trong dòng văn học này: Ðánh bạc ở ngoài quan bắt tội/ Trong tù đánh bạc được công khai/ Bị tù con bạc ăn năn mãi/ Sao trước không vô quách chốn này. Bài Cấm hút thuốc cũng vậy Nó thì kéo tẩu tha hồ hút/ Anh hút, còng đây, ghé tay vào! Thì ra mọi thứ đều là tương đối, có thể đánh tráo được; mà tương đối nhất, dễ đánh tráo nhất lại là luật pháp!
Ðiều cuối cùng tôi muốn nói là khi đọc, khi học NKTT càng bám sát được nguyên tác thì càng thấy được cái hay, cái tinh túy, cái nghệ thuật thơ già dặn của Bác. Chỉ duy nhất có một bài thơ do chính Bác dịch, đó là bài Mới ra tù học leo núi. Cả nguyên tác lẫn bản dịch, đều thật là hay.
Ðã 70 năm, qua nhiều lần sửa chữa, hiệu đính nhưng có nhiều bài vẫn cần thiết được dịch lại. Ðây là điều mà GS Lê Trí Viễn đã từng đề xuất. Chẳng hạn, câu Ngục trung hốt thính tư hương khúc (Trong tù chợt nghe tiếng sáo thổi điệu Nhớ quê) trong bài Nạn hữu xuy địch  mà dịch là Bỗng nghe trong ngục sáo vi vu như của Nam Trân thì chữ "vi vu" vui quá, vô duyên quá, không nhập vào chữ "thê lương", chữ "sầu" ở câu ngay sau đó. Ở bản dịch của Nguyễn Huệ Chi, nếu tạm chấp nhận được câu đầu thì câu thứ 4 Lên lầu ai đó, chốn phòng khuê thiếu chất thơ quá, không sánh được nửa phần cái hay của nghệ thuật, cái nặng của tình trong nguyên tác: Thiên lý quan hà vô hạn cảm/ Khuê nhân cánh thướng nhất tằng lâu. Ở bài Lộ thượng (Trên đường) Nam Trân dịch khá hay nhưng Tự do lãm thưởng mà dịch "vui say" thì vẫn có người có ý kiến không đồng tình. Tuy nhiên, theo ý riêng tôi, chữ "vui say", ẩn đi chữ ngắm cảnh, nói được lòng yêu thiên nhiên của Bác, cũng khá đắc địa; các bản dịch mới không bằng được! Chữ "hoan hỉ" trong bài "Cảnh báo" mà cả Nam Trân và Huệ Chi đều dịch là "khoái" thì chưa ổn. Cả "hoan hỉ" và "khoái" đều là từ Hán Việt, có nghĩa khác nhau rõ ràng. Ðến bài "Chiết tự" thì cả bản dịch nghĩa lẫn bản dịch thơ thì mười phân may chỉ được vài phân!
Quách Mạt Nhược (1892-1978), Viện trưởng Viện Khoa học xã hội đầu tiên của CHND Trung Hoa, một học giả nổi tiếng thế giới, đánh giá về NKTT không đơn thuần là một tập thơ mà là một bộ sử thi.
Nhà thơ Viên Ưng (Trung Quốc) khi đọc NKTT cho rằng: "Không những chúng ta được thấy lại bộ mặt tàn khốc đen tối của nhà tù Trung Quốc mà chúng ta còn được gặp một tâm hồn vĩ đại của một nhà ái quốc, một tâm hồn vĩ đại của bậc đại trí, đại nhân, đại dũng (Tạp chí Văn nghệ, số 5-1960).
Trong Lời tựa cho bản in NKTT bằng tiếng Nga, Pa-ven An-tô-côn-xki viết: "Dấu hiệu của sự khỏe khoắn về mặt tinh thần và của sức mạnh về mặt đạo đức của tác giả là chất hài hước".
GS Huỳnh Lý nhận thấy thơ Bác trong như ánh sáng và cũng như ánh sáng, không chỉ có một mầu trắng; như cây đàn bầu chỉ một dây đồng mà rung lên cả thế giới âm thanh.
70 năm NKTT, đọc lại thơ Bác, quả được thấy "xích xiềng không khóa nổi lời ca", thơ Bác trùm lên tâm hồn ta một bóng cây đại thụ và hiển hiện đường bay của một cánh chim bằng tự do như nửa thế kỷ trước nhà thơ Hoàng Trung Thông từng cảm nhận. Ðó chính là sự bất hủ của một tác phẩm văn chương lớn.

NGUYỄN SĨ ÐẠI

Thứ Tư, 8 tháng 5, 2013

Sức lan tỏa của một hồn thơ lớn

Sức lan tỏa của một hồn thơ lớn

suckhoedoisong.vn - 07/09/2013 20:07

Xét cả về khía cạnh khoa học lẫn thực tiễn, giá trị tư tưởng và thẩm mỹ của một kiệt tác văn chương - nghệ thuật chính là sức lan tỏa của nó trong đời sống tinh thần của cộng đồng, dân tộc và thời đại, cũng như cường lực hấp dẫn của nó đối với báo giới, nhà nghiên cứu, phê bình văn học - nghệ thuật, họa sĩ,... Kiệt tác Nhật ký trong tùcủa Chủ tịch Hồ Chí Minh là một trong số những tác phẩm hiếm hoi sẽ còn lan tỏa mãi đến xa sau cả về trường phủ sóng rộng khắp nhân quần lẫn sức hút ghê gớm đối với mọi người, mọi giới, mọi ngành trên khắp thế giới. Nhân kỷ niệm 70 năm Nhật ký trong tùcủa Chủ tịch Hồ Chí Minh, ngày 6/9/2013 tại Hà Nội, Ban Tuyên giáo T.Ư tổ chức tọa đàm khoa học với chủ đề "70 năm Nhật ký trong tù".

Tỏa sáng một hồn thơ khắp muôn nơi
Điều kỳ diệu nhất là đối với bất kỳ ai đã, đang và sẽ đọc tập thơ Nhật ký trong tù của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong hơn nửa thế kỷ qua và cả sau này, không sớm thì muộn, cũng tìm thấy chí ít là một điều gì đó mà mình thật sự tâm đắc về tư tưởng uyên thâm của một bậc "đại nhân, đại trí, đại dũng", tình cảm bao la của một "người cha, người bác, người anh" hoặc về tài năng nghệ thuật thi ca của một nghệ sĩ lớn hay thú tiêu dao của người mang tầm cỡ và cốt cách một bậc hiền triết phương Đông qua cách dùng từ, chơi chữ.
Việc Bác dụng tâm nhất lúc bấy giờ là lãnh đạo Cách mạng Việt Nam giành độc lập tự do cho dân tộc, đem lại hạnh phúc cho nhân dân, chứ không "ham" làm thơ để trở thành thi sĩ. "Ngâm thơ ta vốn không ham/ Nhưng mà trong ngục biết làm chi đây/ Ngày dài ngâm ngợi cho khuây/ Vừa ngâm vừa đợi đến ngày tự do"(Mở đầu). Nhật ký trong tùlà cuốn sổ tay ghi chép bằng thơ những sinh hoạt của Bác và những điều Người "mục sở thị" cảnh huống trong nhà tù Tưởng Giới Thạch trong vòng hơn một năm. Nhưng gần nửa thế kỷ, kể từ khi được dịch ra tiếng Việt và xuất bản công khai, cuốn sổ ghi chép ấy đã được hàng triệu người trên khắp thế giới đón nhận trân trọng và nồng nhiệt, nó thực sự đã trở thành một kiệt tác thi ca.

  Bìa cuốn Ngục trung nhật ký.
Ngay sau khi Nhật ký trong tùđược dịch và xuất bản bằng tiếng Việt, cũng trong năm ấy, tại Matxcơva, nǎm 1960, tập thơ được dịch ra tiếng Nga, bản dịch của Paghen Antô Cônxki. Tiếp đến là các thứ tiếng Mông Cổ, Ba Lan, Anh, Pháp, Hung, Quốc tế ngữ, Đan Mạch, Cezh, Nam Tư, Đức, Lào,... Giáo sư Huệ Chi đánh giá cao bản dịch tiếng Việt Nhật ký trong tùcủa nhà thơ, dịch giả Nam Trân cũng như nhà thơ Khương Hữu Dụng đánh giá cao bản dịch đầu của hai ông Văn Trực (Phạm Văn Bình) và Văn Phụng.
Cho đến nay, Nhật ký trong tù đã được dịch ra khoảng 30 thứ tiếng trên thế giới, kể cả tiếng Việt và năm 2012, kiệt tác này đã được Thủ tướng Chính phủ ký quyết định công nhận là "báu vật quốc gia" cùng với một số di thư khác của Bác như Bản Di chúc, Bản Tuyên ngôn Độc lập,tác phẩm Đường Kách mệnh,Bản thảo Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến. Tập thơ mỗi lần xuất bản đều với số lượng lên tới hàng chục vạn bản, chưa kể nối bản. Và có những bản dịch tái bản lên tới hơn cả chục lần. Nhưng quan trọng hơn là đằng sau số lượng lớn bản in, chính là sức lan tỏa của nó tới hàng triệu người trên toàn thế giới.
Tiềm ẩn nhiều giá trị cần khai sáng
Với một kiệt tác thi ca như Nhật ký trong tù chắc chắn sức lan tỏa về chiều sâu trí tuệ khoa học và xúc cảm thẩm mỹ vẫn còn tiềm ẩn nhiều điều, cuốn hút nhiều thế hệ nhà báo, nhà nghiên cứu, phê bình văn học, nhà nghiên cứu lịch sử, các nhà chế tác nghệ thuật, họa sĩ,... ngõ hầu tìm tòi, khám phá nhiều giá trị tư tưởng và thẩm mỹ còn tiềm ẩn trong kiệt tác đó. Đối với một kiệt tác văn chương, không bao giờ là câu chuyện của một người và của một thời, mà nó là một hằng số giá trị bất biến của muôn người và muôn đời. Ở nước ta cũng như trên thế giới, điều này đã từng xảy ra với nhiều kiệt tác trước đây. Dường như đối với các kiệt tác văn chương càng nghiên cứu, tìm hiểu, khám phá, càng không bao giờ chạm đến đích cuối cùng.
Cho đến nay đã có hàng trăm bài báo, tạp chí, công trình nghiên cứu, luận án từ đại học đến tiến sĩ nghiên cứu tìm hiểu về tập thơ Nhật ký trong tù của Bác, nhưng càng ngày lại càng nảy sinh thêm những vấn đề mới, mà trong khuôn khổ một bài báo, bài tạp chí, luận án hay công trình nghiên cứu không thể nào bao quát hết và làm sáng tỏ mọi vấn đề. Chỉ riêng "hành trình nguyên tác Ngục trung nhật ký" đã làm nảy sinh nhiều cuộc bàn thảo trên báo chí và Hội thảo khoa học.
Nhà văn, nhà báo Hoàng Quảng Uyên quê ở Cao Bằng tự nhận mình là "người viết sử bằng văn" đã dày công lặn lội trong nhiều năm, từ Cao Bằng, Tuyên Quang đến Hà Nội và sang tận cả Trung Quốc để truy tìm tận gốc hành trình của Ngục trung nhật kýsau 10 năm "lưu lạc". Cuối cùng ông đã xác định: "Ông Hoàng Triều Ân khẳng định thời gian Bác đến Lam Sơn đàm đạo thơ với ông Hoàng Đức Triều, đọc, bình giảng một số bài thơ trong quyển sổ tay giấy mềm, rồi "để quên" nơi Bác ở (lán sơ tán Pác Tẻng - Lam Sơn, Hòa An, Cao Bằng).
Đây chỉ là một trong hàng chục người đã dày công muốn hiểu rõ ngọn ngành sự thật về hành trình "lưu lạc" của Ngục trung nhật ký.Tuy nhiên, sự xác tín khoa học về những điều mà nhà văn Hoàng Quảng Uyên nói trên rất cần được kiểm chứng. Nhưng, dù sao đây cũng là một quá trình tìm tòi rất công phu của nhà văn Hoàng Quảng Uyên, nhằm tìm ra hành trình của Ngục trung nhật kýtrước khi được dịch ra tiếng Việt và xuất bản công khai, rất đáng ghi nhận và trân trọng. Bên cạnh đó còn có hàng chục các công trình khảo cứu tìm hiểu về những người đầu tiên dịch Ngục trung nhật ký từ tiếng Hán ra tiếng Việt, từ tiếng Việt ra các thứ tiếng Nga, Anh, Pháp và từ các thứ tiếng ấy ra các ngôn ngữ khác trong quãng thời gian hơn nửa thế kỷ qua.
Chiều sâu sự lan tỏa của Nhật ký trong tùcòn thể hiện ở chỗ khiến cho nhiều người không bằng lòng với các bản in trên giấy trắng, bằng tiếng Việt phổ thông, nên đã đi tìm những cách thể hiện bằng chữ thư pháp, trên nhiều chất liệu khác nhau như giấy dó, vải giả da, thậm chí trên đá, đặng "vĩnh hằng hóa" kiệt tác thi ca này của Bác. Chẳng hạn như Quyển thư pháp về Nhật ký trong tùcó kích thước 1m x 0,52m x 0,15m, với 322 trang, trọng lượng 40kg. Bìa sách được làm bằng gỗ; các góc, gáy sách và bản lề được làm bằng đồng. Đây là một công trình tập thể do họa sĩ - nghệ nhân Trần Quốc Ẩn kết hợp với nhiều nhà thư pháp, họa sĩ, nghệ sĩ khác đã kỳ công thực hiện trong hơn một năm ròng. Bộ sách đã được trao giải "Sách độc đáo giá trị" tại Hội sách TP. Hồ Chí Minh lần 3 (2004), được trao giải "Tinh hoa Việt Nam" tại Festival Huế 2004, đặc biệt năm 2007 đã được xác lập Kỷ lục Việt Nam.
Những vấn đề cũ tưởng chừng như đã được giải quyết, song cũng cần được thẩm định lại, nhiều vấn đề mới sẽ nảy sinh và được bàn luận sôi nổi. Đấy là sức lan tỏa của một kiệt tác thi ca khiến tất cả chúng ta luôn cảm thấy bất ngờ và thú vị.
Đỗ Ngọc Yên

Chủ Nhật, 3 tháng 3, 2013

Kỷ niệm 70 năm "Ngục trung nhật ký": Sự trở lại của một kích thước lớn

Kỷ niệm 70 năm "Ngục trung nhật ký": Sự trở lại của một kích thước lớn

(Thử tìm hiểu lí do vì sao chưa có một bản dịch trọn vẹn Nhật ký trong tù ở hai thời điểm 1960 và 1983)

Phong Lê - 02-03-2013 12:10:31 AM
Bản gốc Ngục trung nhật ký
Năm 1960 là năm bản dịch Nhật ký trong tù lần đầu tiên ra mắt bạn đọc, nhân kỷ niệm lần thứ 70 ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Năm 1983 là năm kỷ niệm 40 năm Hồ Chí Minh viết xong Ngục trung nhật ký.
Ra mắt công chúng từ tháng 5-1960, nguyên bản tiếng Hán Ngục trung nhật ký và bản dịch Nhật ký trong tù có quá trình tồn tại cùng tác giả trong hơn 9 năm – cho đến 9-1969 là năm Hồ Chí Minh qua đời. Sự sôi nổi trong đón nhận Nhật ký trong tù không chỉ diễn ra ở trong nước mà còn là cả nhiều nơi trên thế giới – qua các bản dịch ra nhiều thứ tiếng, và sự giới thiệu của nhiều bạn bè quốc tế. Thế nhưng công chúng lại rất ít được biết ý kiến của chính tác giả là thế nào? Chưa thấy Bác trực tiếp nói, và cũng ít có ai trong số những người gần gũi với Bác nói về chuyện này. Qua vốn đọc của tôi, tôi chỉ thấy có một lần – đó là lần đồng chí Vũ Kỳ, nhân cuộc chuyện trò với hai tác giả cuốn Tìm hiểu thơ ca chiến khu của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Đã có lần ở Trường Đại học Sư phạm Vinh, tôi trao đổi với các đồng chí cán bộ giảng dạy là các anh bình Nhật ký trong tù mà lại bình bản dịch thì không ổn, vì khi tôi báo cáo bản dịch Nhật ký trong tù với Bác, thì Bác tủm tỉm cười: “Cám ơn các chú đã dịch hay hơn thơ của Bác làm”(1).
Một hiện tượng đáng lưu ý khác là trong suốt thời gian từ 1960 đến 1969 – và còn kéo dài thêm nhiều năm về sau, bạn đọc đều không biết là ngoài 114 bài đã được dịch trong bản in Nhật ký trong tù năm 1960, vẫn còn 19 bài khác chưa được giới thiệu. Và việc để thiếu này, những người làm Nhật ký trong tù và Viện Văn học đều không nói ra. Đến 1978, Lê Khánh Soa công bố thêm 8 bài trên báo Nhân dân, số ra ngày 13-5-1978. Rồi đến 1983, nhân 40 năm ra đời Ngục trung nhật ký, Viện Văn học lại tổ chức tiếp việc dịch bổ sung thêm 13 bài mới để có 127 bài (trong đó có 7 bài đã được Lê Khánh Soa công bố). Vậy là đến 1983, vẫn còn 6 bài chưa được dịch và công bố. Và việc để thiếu này trong lần công bố thứ hai của Viện Văn học cũng không được nói đến. Những người đã mất như Nam Trân, Hoài Thanh không nói đã đành, mà những người lúc này còn sống như Đặng Thai Mai, Tố Hữu cũng không một lần nói đến. Lại phải chờ thêm 7 năm nữa, cho đến năm 1990… Và giới nghiên cứu đành theo lối suy diễn mà nghĩ ra lý do, chẳng hạn như ý kiến của PGS. Phan Văn Các: “Có một câu hỏi đáng nhắc ở đây: vì sao bản dịch chỉ mới bổ sung 13 bài trong khi nguyên tác có 133 bài tất cả? Phải chăng có một nguyên nhân gì đó thuộc về “thao tác kỹ thuật” đã cản trở người dịch, chẳng hạn sự khó khăn trong khâu chuyển ngữ? Hay phải chăng sự ràng buộc nghèo nàn trong nhận thức chung của toàn xã hội (PVC nhấn mạnh) mà bản dịch năm 1960 là một phản ánh, chỉ mới “cởi mở” được đến chừng ấy mà thôi? Dẫu sao, sự bổ sung chưa đầy đủ cũng là một dấu hiệu cho thấy công việc dịch Nhật ký trong tù năm 1983 chỉ mới là một bước chuyển tiếp và còn phải tiếp tục cố gắng đẩy tới những bước mới tích cực hơn nữa, để sớm đi đến bản dịch hoàn chỉnh cuối cùng”(2).
Và đó là bản dịch trọn vẹn của Viện Văn học năm 1990 – đặt trong cuốn Suy nghĩ mới về “Nhật ký trong tù” do Nguyễn Huệ Chi chủ biên, được tái bản trong các năm 1993, 1995, 1996; và bài viết của Phan Văn Các là một mục trong phần Chuyên khảo của sách này.
Bản dịch năm 1990 này gồm đủ 133 bài, cùng với bài mở đầu Bốn câu, không có tên bài, không đánh số bài, và bài cuối: Tân xuất ngục học đăng sơn không nằm trong tập nhật ký, là 135 bài.
Bây giờ, sau 70 năm, tính từ khi Nhật ký trong tù được viết ra, và 53 năm khi bản dịch đầu tiên Nhật ký trong tù được ấn hành thì thấy việc công bố đủ 135 bài của Nhật ký trong tù phải cần đến một hành trình chẵn 30 năm, qua các mốc lịch sử 1978, 1983, và 1990.
*
Hãy thử tìm lý do của sự gác lại 19  bài trong bản in năm 1960, rồi 6 bài trong bản in năm 1983, để đến năm 1990, mới có bản dịch trọn vẹn 133 bài.
Năm 1978, Lê Khánh Soa công bố thêm 8 bài trong số 19 bài bị gác lại ở bản in năm 1960 của Viện Văn học. Đó là các bài Vấn thoại (Lời hỏi), Nhai thượng (Trên đường phố), Dạ bán văn khốc phu (Nửa đêm nghe tiếng khóc chồng), Ký Nê Lỗ (đánh số 86-87) – (Gửi Nêru), Chính trị bộ cấm bế thất (Nhà giam của Cục chính trị), Dương Đào bệnh trọng (Dương Đào ốm nặng), và Nhân đỗ ngã (Nhân lúc đói bụng).
Năm 1983, bản dịch của Viện Văn học bổ sung 13 bài, trong đó có 7 bài đã công bố của Lê Khánh Soa.
Đó là các bài: Long An Lưu sở trưởng (Sở trưởng Long An họ Lưu), Nhai thượng, Dạ bán văn khốc phu, Ký Nê Lỗ I, II, Thiên Giang ngục (Nhà lao Thiên Giang), Liễu Châu ngục (Nhà ngục Liễu Châu), Chính trị bộ cấm bế thất, Mông ưu đãi (Được ưu đãi), Ngũ khoa trưởng, Hoàng khoa viên (Khoa trưởng họ Ngũ, Khoa viên họ Hoàng), Dương Đào bệnh trọng, Nhân đỗ ngã, Trần khoa viên lai thám (Khoa viên họ trần tới thăm).
Vậy là ở bản in năm 1983 của Viện Văn học vẫn bỏ ra ngoài bài Vấn thoại đã được Lê Khánh Soa công bố.
Bản Viện Văn học năm 1990 bổ sung tiếp 6 bài – để có “bản dịch trọn vẹn”. Đó là các bài: Vấn thoại, Nạn hữu Mạc mỗ (Bạn tù họ Mạc), Độc Tưởng công huấn từ (Đọc lời giáo huấn của ông Tưởng), Lương Hoa thịnh tướng quân thăng nhậm Phó tư lệnh (Tướng quân Lương Hoa Thịnh thăng chức Phó Tư lệnh), Hầu Chủ nhiệm tặng nhất bộ thư (Chủ nhiệm họ Hầu tặng một bộ sách), Kết luận.
Dưới đây tôi thử tìm hiểu lý do của sự gác lại. Trường hợp thứ nhất - đó là bài Vấn thoại (Lời hỏi), phải đến bản in năm 1990 của Viện Văn học mới được công bố.
Bản chữ Hán như sau: Xã hội đích lưỡng cực/ Pháp quan dữ phạm nhân. Quan viết: nhĩ hữu tội/ Phạm viết; ngã lương dân/ Quan viết: nhĩ thuyết giả/ Phạm viết: ngã ngôn chân/ Pháp quan tính bản thiện/ Giả trang ác ngân ngân/ Yếu nhập nhân ư tội/ Khước giả ý ân cần/ Giá lưỡng cực chi gian/ Lập trước công lý thần.
Bài dịch thơ của Huệ Chi: Hai cực trong xã hội/ Quan tòa và phạm nhân/ Quan rằng: anh có tội/ Phạm thưa: tôi lương dân/ Quan rằng: anh nói dối/ Phạm thưa: thực trăm phần/ Quan tòa tính vốn thiện/ Làm ra vẻ dữ dằn/ Muốn khép người vào tội/ Lại giả bộ ân cần/ Ở giữa hai cực đó/ Công lý đứng làm thần.
Lý do của sự công bố chậm? Đây là một bài thơ đậm chất triết lý. Là việc xác định chân lý là ở phía nào trong hai cực của xã hội, trong một xã hội bị đẩy về hai cực. Giữa một bên là phạm nhân – lương dân và một bên là quan tòa “tính vốn thiện” nhưng lại phải “khép người vào tội”… Như vậy tính hai mặt của cả phạm nhân và quan tòa ở đây là do sức ép của xã hội, do quy định của hoàn cảnh – một hoàn cảnh buộc con người phải phân thân, khiến cho chân lý không nằm ở một phía nào trong hai cực đó. Chân lý nằm ở Thần công lý đứng ở giữa. Đây là một khái quát triết học rất sâu, vượt thoát ra khỏi các quan niệm về giai cấp và đấu tranh giai cấp thông thường, để hướng tới một nhận thức tổng quát về sự tồn tại, sự hiện hữu chung của thế giới, mà việc đi tìm công lý, tìm chân lý là nằm giữa hai cực, vốn không được thiên vị, và vốn không chút dễ dàng cho nhận thức và tìm chọn của con người…
Trường hợp thứ hai – đó là các bài nói về các ân nhân, hoặc những nghĩa cử tốt đẹp ở về phía người đương quyền như Sở trưởng Long an họ Lưu:
Làm việc đúng thay Lưu sở trưởng
Ai ai cũng bảo bác công bình
Đồng tiền bát gạo đều công bố
Sạch sẽ, lao tù rất vệ sinh
                        (Nam Trân dịch)
Như Lương chủ nhiệm trong Mông ưu đãi (Được ưu đãi):
Ăn có cơm rau, ngủ có mền,
Báo xem, thuốc hút: cấp cho tiền;
Ông Lương chủ nhiệm đãi ta hậu,
Cảm kích lòng ta, nói chẳng nên
                        (Huệ Chi dịch)
Như Trần khoa viên trong Trần khoa viên lai thám (Khoa viên họ Trần tới thăm):
Lính tráng tuần canh nhìn nhẵn mặt,
Hôm nay mới được gặp văn nhân;
Người trông nho nhã, ai không thích,
Mái tóc ta xanh lại mấy phần
                        (Huệ Chi dịch)
Năm nhân vật mới, gồm Sở trưởng Long An họ Lưu, Lương chủ nhiệm, Khoa trưởng họ Ngũ, Khoa viên họ Hoàng, và Trần Khoa viên đã được đưa vào bản dịch năm 1983. Đến bản in năm 1990, bổ sung thêm ba nhân vật mới. Đó là Tưởng Giới Thạch, trong bài Độc Tưởng công huấn từ (Đọc lời giáo huấn của ông Tưởng):
Gian khó không lùi vẫn tiến lên,
Thù nhà nợ nước, nghĩa đương nhiên;
Quyết tâm gắng gỏi và kiên nghị,
Nhất định thành công sẽ có phen
                        (Đỗ Văn Hỷ dịch)
Và Lương Hoa Thịnh trong Lương Hoa Thịnh tướng quân thăng nhậm Phó Tư lệnh (Tướng quân Lương Hoa Thịnh thăng chức Phó Tư lệnh):
Đốc quân ngày trước vùng Tương, Chiết,
Chống giặc năm nay mạn Miến, Điền,
Lừng lẫy uy danh, thù mất mật,
Mừng ông ca trước khải hoàn thiên
                        (Trần Đắc Thọ dịch)
Rồi Hầu Chủ nhiệm trong Hầu Chủ nhiệm ân tặng nhất bộ thư (Chủ nhiệm họ Hầu tặng một bộ sách):
Sách ngài Chủ nhiệm mới đưa sang
Đọc đoạn, tinh thần chợt mở mang;
Còn vẳng bên tai lời lãnh tụ,
Chân trời một tiếng sấm rền vang
                        (Đỗ Văn Hỷ dịch)
Và bài Kết luận, tiếp tục sự cảm ơn Hầu Chủ nhiệm:
Sáng suốt nhờ ơn Hầu Chủ nhiệm
Tự do trở lại với ta rồi;
“Ngục trung nhật ký” từ đây dứt
Tái tạo ơn sâu cảm tạ người
(Khương Hữu Dụng dịch)
Sát dưới bài này là mấy dòng ghi tiếp:
“29-8-1942
10-9-1943
Hoàn” – chữ Hán, tức là Hết.
Hết đặt ở đây, sau  bài Kết luận mới là đúng chỗ.
Cái lý do để tránh những bài thuộc loại này có lẽ là “sự ca ngợi” kẻ thù – những kẻ đã bắt giam và quản lý Hồ Chí Minh. Nhưng ta cần nhớ rằng lúc này là 1942-1943, chính quyền Tưởng đang là đại diện chính thống của Trung Hoa dân quốc; và hai năm sau thuộc trong lực lượng Đồng minh, có trách nhiệm giải giáp quân Nhật ở Đông Dương. Và nếu được biết thêm phần ghi chép bằng văn xuôi (chữ Hán) của Hồ Chí Minh trong cuốn sổ, sẽ thấy tác giả rất chăm chú đọc sách, báo để theo dõi thời sự và trau dồi tri thức, kinh nghiệm. Ở mục Độc thư lan (Đọc sách) trong cuốn sổ, từ trang 47 đến trang 52, ghi tóm tắt một tài liệu tác giả được đọc dưới nhan đề Quân sự cơ bản thường thức, có một dòng ghi ủy viên Tưởng huấn từ, gồm 2 mục: - Những hiểu biết cơ bản về quân sự, và Huấn luyện. Đây có phần chắc là bộ sách của Tưởng Giới Thạch, tác giả được Hầu Chủ nhiệm tặng; bộ sách được nói đến ở bài số 120 – Độc Tưởng công huấn từ, và bài số 127 – Hầu Chủ nhiệm ân tặng nhất bộ thư.
Cần phải nói thêm Hồ Chí Minh là một kiểu tù nhân đặc biệt. Trong phần cuối thời gian ở tù Bác đã được tự do đọc sách báo – trong đó có sách của Tưởng Giới Thạch, lúc này là Tổng thống Trung Hoa dân quốc. Cách ứng xử của Bác bao giờ cũng rất nhân tình. Ai làm ơn, Bác đều chịu ơn.
Trường hợp thứ ba là những bài về sinh hoạt thường nhật trong nhà tù – những bài dường như không ngụ một ý tưởng gì sâu sắc cả, hoặc tựa như không có… chủ đề. Loại bài này đến bản in năm 1983 mới xuất hiện, như các bài Bạn tù họ Mạc, Trên đường phố, Nửa đêm nghe tiếng khóc chồng, Nhà lao Thiên Giang, Nhà giam của Cục chính trị… Xin dẫn một vài bài trong số đó – bài Nhà giam của Cục chính trị:
Hai thước rộng, ba thước dài
Ngày đêm luẩn quẩn bốn người tù nhân;
Mỏi chân, không chỗ duỗi chân,
Người đông, phòng hẹp khó phần trở xoay
(Khương Hữu Dụng dịch)
Hoặc bài Nhà lao Thiên Giang:
Ngoài lao sáu chín chiếc ang người
Ang chất trong lao biết mấy mươi;
Nhà ngục mà như nhà chế thuốc,
Gọi là hàng chĩnh cũng không sai.
(Băng Thanh dịch)
Chỉ hơi khó hiểu vì sao 2 bài Gửi Nêru phải đến năm 1983 mới xuất hiện và bài Dương Đào ốm nặng vẫn bị gác lại đến năm 1990? Bài Gửi Nêru nói về sự đồng cảm về tình và cảnh của Bác và Nêru – hai chiến sĩ lớn của phong trào giải phóng dân tộc. Và bài Dương Đào bệnh nặng nói đến tình thương mến của Bác với Dương Đào – người dẫn đường cho mình trên đường sang Quảng Tây.
*
19 bài trong Ngục trung nhật ký thuộc ba loại  bị gác lại trong hai lần in năm 1960 và 1983 của Viện Văn học theo tôi hiểu là có các lý do như trên. Đó là sự suy nghĩ riêng. Có thể có những lý do khác trong suy nghĩ của những người đã tham gia vào việc dịch tác phẩm năm 1960 và 1983; trong đó, ở một vài bài, có lẽ là do khó dịch, như GS. Nguyễn Huệ Chi đã có lần trả lời tôi. Hoặc do sự chỉ đạo từ các cấp trên, cũng có thể từ chính tác giả, mà chúng ta không được biết. Bởi lẽ không có văn bản nào ghi lại chuyện này.
Kể từ thập niên cuối thế kỷ XX, điểm lại hành trình của bản dịch Nhật ký trong tù ta mới có dịp hiểu đầy đủ hơn, trọn vẹn hơn con người Hồ Chí Minh. Mới thấy tác giả vẫn lớn, và càng lớn hơn trong những bài thơ chậm được công bố. Càng lớn, bởi Bác gần chúng ta hơn. Lịch sử đã phải trải qua một chặng đường dài cho mọi sự vật trở lại kích thước của nó, và sự vẹn nguyên của nó…
_______
(1) Lời ghi của Vũ Châu Quán và Nguyễn Huy Quát; sách do Nxb. Văn hóa dân tộc ấn hành; 1990; tr.265.
(2) Sách Suy nghĩ mới về “Nhật ký trong tù”; Nxb. Giáo dục; 1995; tr.259.

Thứ Bảy, 9 tháng 2, 2013

70 năm Ngục trung nhật ký

70 năm Ngục trung nhật ký

Thứ Sáu, 08/02/2013 09:55

Ngục trung nhật ký (Nhật ký trong tù) được Bác Hồ hoàn tất từ năm 1943, đến năm 1960 thì đến với công chúng (bản dịch). Trong 23 năm ấy, bản thảo của tuyển tập này nằm ở đâu, ai giữ…? Đến nay, rất ít người biết về những chuyện này

ăm 1943 là năm Bác viết xong Ngục trung nhật ký với bài cuối cùng là bài Kết luận: Sáng suốt, nhờ ơn Hầu Chủ nhiệm,Tự do trở lại với ta rồi;Ngục trung nhật ký" từ đây dứt,Tái tạo ơn sâu, cảm tạ người (Bản dịch của Khương Hữu Dụng) Sát dưới bài là mấy dòng: "29-8-1942 10-9-1943 Hoàn" - chữ Hán, tức là Hết.
Năm 1960 là năm bản dịch Nhật ký trong tù đầu tiên ra mắt bạn đọc.
Ðầu năm 1960, khi tôi về công tác ở Viện Văn học thì viện đang trong không khí chuẩn bị cho sự ra mắt long trọng lần đầu bản dịch Ngục trung nhật ký của Chủ tịch Hồ Chí Minh nhân sinh nhật lần thứ 70 của tác giả. Trong quãng đời nghề nghiệp của mình, tôi đã từng viết và nói về sự nghiệp thơ văn của Hồ Chí Minh và về Nhật ký trong tù, thế mà mỗi lần chạm phải câu hỏi hoặc tự mình đặt câu hỏi "Ngục trung nhật ký từ đâu đến?" hay nói cho cụ thể hơn "trước khi đến Bảo tàng Cách mạng, Ngục trung nhật ký nằm ở đâu?", tôi đều tìm cách tránh câu trả lời, có khi chỉ trả lời cho qua chuyện.
Xem triển lãm “Nghệ thuật thư pháp Hàn Quốc về tác phẩm Nhật ký trong tù của Chủ tịch
Hồ Chí Minh tại Bảo tàng Hồ Chí Minh (Hà Nội). Ảnh: TTXVN
Ðại loại là có ai đó đã lưu giữ hoặc phát hiện ra Ngục trung nhật ký và đưa vào Viện Bảo tàng Cách mạng… Cố nhiên, chuyện Hồ Chí Minh làm thơ trong tù thì đã nhiều lần được tác giả nói đến, như trong Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch (1949) của Trần Dân Tiên, Vừa đi đường vừa kể chuyện (1963) của T.Lan… Hoặc kể cho Lê Tùng Sơn nghe, hồi tác giả còn ở Trung Quốc. Và về sau, trên Báo Ðồng minh số ra ngày 6-6-1946, T.S có đoạn ghi lại: "Cụ đưa cho tôi xem quyển thơ mà ít người được Cụ cho biết. Ðó là quyển sách đóng bằng giấy hàng tốt vừa, to bằng bàn tay, với nhan đề Ngục trung sinh hoạt (Cuộc sống ngục tù). Trang bìa đầu vẽ hai cánh tay bị trói do chính tay Cụ vẽ lấy. Tôi chỉ nhớ mỗi một bài đầu của cuốn sách đó"…
Nhưng còn chuyện sau khi ra tù, cuốn sổ thơ ấy được lưu giữ như thế nào thì ngoài Hồ Chí Minh, vẫn chưa có ai được biết.
Trở lại chuyện Nhật ký trong tù - bản dịch và in lần đầu tiên vào tháng 5-1960 sau một năm bận rộn của Viện Văn học. Tôi tin là những người tổ chức việc viết lại chữ Hán, phiên âm, dịch và ấn hành Nhật ký trong tù như Tố Hữu, Ðặng Thai Mai, Hoài Thanh, Phạm Phú Tiết, Nam Trân… đều biết rõ lai lịch của nó nhưng chưa ai một lần nói hoặc ghi lại đâu đó về vấn đề này. Bản dịch Nhật ký trong tù được gọi là "trọn vẹn" vào năm 1990 và được tái bản trong các năm 1993, 1995, nằm trong bộ Suy nghĩ mới về "Nhật ký trong tù" do Viện Văn học tiếp tục ấn hành thì những chi tiết xung quanh xuất xứ tác phẩm văn học này vẫn chưa sáng tỏ.
Người viết Dẫn luận và là chủ biên Suy nghĩ mới về "Nhật ký trong tù" là GS Nguyễn Huệ Chi vẫn còn để ngỏ cho câu chuyện này: "Bởi sau khi ra đời, tác phẩm đã "chìm" vào giữa bộn bề của lịch sử trong ngót 20 năm, để rồi vào giữa năm 1960 mới lại xuất hiện dưới hình thức bản dịch Nhật ký trong tù và đến tay bạn đọc rộng rãi…" (Suy nghĩ mới về "Nhật ký trong tù" ).
Cuối tháng 4-2003, khi tôi được Bộ GD-ÐT cử làm phản biện cho luận án tiến sĩ: Khảo sát văn bản "Ngục trung nhật ký" và nghiên cứu nội dung, hình thức nghệ thuật tập thơ từ góc độ nhật ký của nghiên cứu sinh Vũ Thị Kim Xuyến thì mới được sự trả lời cụ thể về câu hỏi này. Ðể làm luận án, chị Kim Xuyến đã được Viện Bảo tàng Cách mạng cho tiếp xúc trực tiếp với văn bản chữ Hán Ngục trung nhật ký. Và theo như cách viết của luận án thì văn bản đó đã được chính Chủ tịch Hồ Chí Minh giao cho Viện Bảo tàng Cách mạng vào ngày 14-9-1955. Ðây là trích dẫn trong luận án: "… ngày 14-9-1955, nhân dịp Chủ tịch Hồ Chí Minh đến duyệt nội dung triển lãm về Cải cách ruộng đất tại phố Bích Câu - Hà Nội, Người đã đưa cuốn sổ tay kèm theo thẻ dự Hội nghị Liễu Châu - Trung Quốc cho đồng chí Nguyễn Việt, trưởng ban tổ chức triển lãm, và Người nói: "Tôi có quyển sổ tay cách đây mười mấy năm, còn giữ đến bây giờ, các cô các chú xem có triển lãm được thì dùng". Và "trong hồ sơ hiện vật về cuốn sổ tay của Hồ Chí Minh có ghi rõ: Ðồng chí Trần Ngọc Chương, Phó Phòng Nghiên cứu sưu tầm - Viện Bảo tàng Cách mạng Việt Nam, đã được chứng kiến lúc Hồ Chủ tịch bàn giao cuốn sổ Ngục trung nhật ký cho Viện Bảo tàng Cách mạng Việt Nam".
Nhưng sau tất cả những dẫn liệu trên, câu trả lời về lai lịch Nhật ký trong tù vẫn chưa thật được thỏa mãn. Phải đến bài viết của Hồng Khanh với tiêu đề Niềm vui của Bác Hồ khi nhận lại bản thảo "Nhật ký trong tù", đăng trên Báo Nhân Dân số ra ngày 17-5-2003 thì vấn đề mới thật sự được sáng tỏ.
Vậy là chính Hồ Chí Minh đã giữ theo mình văn bản Ngục trung nhật ký suốt từ năm 1943, sau khi ra tù. Hoàn cảnh chuẩn bị Tổng khởi nghĩa khiến Bác phải di chuyển liên tục nên Bác đã gửi nhờ trong nhà của một đồng bào người dân tộc ở Cao Bằng… Và từ đấy, cho đến giữa 1955, sau ngày giải phóng thủ đô, cuốn sổ theo đường bưu điện lại được gửi về Văn phòng Phủ Chủ tịch để trình lên Bác. Từ đó mới tiếp tục có câu chuyện Bác chuyển giao cuốn sổ cho ban tổ chức một cuộc triển lãm…
Phong Lê