Nam Trân

Nam Trân

Thứ Hai, 10 tháng 6, 2013

Mèo Huế



Mèo Huế

Đặng Tiến
Mèo là thành phần của tạo vật, không hệ thuộc loài người, không phải là sở hữu địa phương. Nói Mèo Huế là chuyện vui ngày Tết. Đất Huế, người Huế, tiếng Huế có bản sắc, biết đâu mèo Huế chẳng thừa hưởng ít nhiều phẩm chất của thổ ngơi và gia chủ?
Từ điển tiếng Huế (1) của Bùi Minh Đức là một ấn phẩm có vấn đề về ngôn ngữ học và từ điển học, nhưng là nguồn tư liệu quý về “người Huế, văn hóa Huế”. Ở mục mèo, tác giả trích dẫn: “phong dao Huế”, rồi “đồng dao Huế”.
Mèo ngoao cắn cổ ông thầy
Ông thầy bắt được một bầy mèo ngoao
Trích dẫn hai lần, có lẽ vì thích thú; một lần gọi là phong dao, là chủ ý nhấn mạnh tính cách địa phương; sau đó gọi là đồng dao, ngụ ý câu hát vui chơi của trẻ con, không có ý nghĩa gì. Tác giả nghe vậy, nhớ vậy và ghi lại như vậy, là đúng với tính chất văn chương truyền khẩu. Chúng ta không thể dựa vào văn bản nọ, ấn bản kia để nói rằng thoại này đúng, thoại kia sai. Ai muốn tìm hiểu câu hát, thì có thể thấy nó trong tuyển tập dày cộm 2800 do nhóm Nguyễn Xuân Kính(2):
Mèo ngao cắn cổ con cầy
Con cầy vật chết cả bầy mèo ngao
 Câu này rõ nghĩa, nhưng lại… thường thôi: cảnh mèo chó phân tranh là thường tình “như mèo với chó”, nó không độc đáo như ông thầy vô nghĩa trong câu “đồng dao xứ Huế”; ông Bùi sáu lần viết mèo ngoao thay vì ngao. Chữ ngoao là động từ tả việc, tiếng mèo kêu (để gọi người) còn ngao là tính từ, chỉ giống mèo lớn, gần với mèo rừng. Trong Từ điển tiếng Huế, ông Bùi phát âm theo giọng “Huế mình: noái, goại” mèo ngao là mèo ngoao, còn hơn nhiều từ điển tiếng Việt hiện hành, …không có từ ngao! Nói chuyện về người Huế, tiếng Huế, bao giờ cũng có cái vui. Ông Bùi còn dẫn “vè Huế”:
Dấu che bưng bít bấy chầy
Nay đà rõ mặt một bầy mèo ngoao
Có lẽ là sản phẩm địa phương thật, vì tìm nơi khác không thấy. Còn câu “hò Huế”:
Con mèo không rách, răng kêu mèo vá,
Con cá không thờ, răng gọi cá linh?
là lối hát đối đáp, chơi chữ, thịnh hành nhiều nơi phía Nam, nhưng thoại này với từ răng, thổ ngữ, mang chất Bình Trị Thiên rõ nét.
Đến câu này thì toàn quốc nhiều người biết:
Con mèo mà trèo cây táo
Bà gia lơ láo, mắng chửi nàng dâu.
Miền Trung, có lẽ là vùng Trị Thiên đã biến chế:
Con mèo trèo lên cây táo,
Mồ hôi chưa ráo, áo cụt chưa khô,
Dầu mà eng có nơi mô,
Em nguyền thác xuống ao hồ trọn danh.
Câu thơ chất phác, tha thiết, tình tứ, gợi nhớ không gian và tâm tình Huế. Và câu hò giã gạo:
Gặp nhau chưa ráo mồ hôi
Chưa tan cối gạo đã rời nhau ra.
Với từ ngữ địa phương, dân gian Trung bộ đã sáng tạo những hình ảnh xuất sắc:
Mèo thấy mỡ mèo thèm chết giãy
Mỡ thấy mèo mỡ nhảy tê tê.
Mèo thấy mỡ là tục ngữ ẩn dụ sự thèm muốn vật chất, thường là nói đàn ông trước nhan sắc. Thèm chết giãy, tiếng địa phương, nghĩa là thèm đến cùng cực, đến rãy chết như con cá giẫy giụa trên thớt. Con mèo được nhân cách hóa trong hình ảnh sống động. Câu sau, thủ pháp nhân cách hóa được đẩy xa hơn, táo bạo, tân kỳ hơn: mỡ thấy mèo, ngụ ý hóm hỉnh vì đối ngẫu với câu trên, người nghe hiểu: cục mỡ vô giác vô tri đây là người phụ nữ. Nhảy tê tê, nghĩa địa phương, là rãy rụa theo phản xạ của con cá tươi sắp chết, tưng tưng trong rổ cá. Nó không có nghĩa “mất cảm giác” như đã ghi trong các từ điển, kể cả của ông Bùi Minh Đức, nó cũng không có nghĩa tê tái, xót xa như trong thơ Thâm Tâm:
Ngoài phố mưa bay: xuân bốc rượu
Tấc lòng mong mỏi cháy tê tê
Ới ơi bạn tác ngoài trôi giạt
Chẳng đọc thơ ta tất cũng về
               (Vọng nhân hành, 1944)
Ông Bùi minh Đức mách: người Huế chuộng mèo tam thể: “có ba màu, rất óng ả. Loại mèo người Huế rất thích nuôi trong nhà”. Dễ hiểu thôi, vì vai trò tiên khởi của mèo khi được con người thuần hóa là bắt chuột và những loài gậm nhấm. Dần dà, ngày một ngày hai, những gia đình sung túc mới nuôi mèo vừa để diệt chuột, vừa làm bầu bạn. Huế trong một thời gian dài, là đế đô, thành phố hành chính. Các gia đình hoàng phái và quan lại, công chức, nuôi mèo làm cảnh, mua vui, làm bầu bạn, nhất là những lúc bài bạc, đánh tứ sắc, đổ xâm hường.
Nghe nói vua triều Nguyễn cũng có người nuôi mèo, do đó có từ mèo ngự.
Xuân Diệu có thời ở Huế; năm 1937, anh từ Hà Nội vào, học năm cuối cùng bậc tú tài. Ở Huế không lâu, nhưng anh chịu ảnh hưởng sâu đậm không gian đế đô, và đã viết nhiều đoản thiên, ba năm sau in thành tập truyện Phấn Thông Vàng(3) với những câu nổi tiếng: “Con đường Nam Giao thẳng mà không bằng, tôi khởi sự đi trong ánh sáng, và tôi tới lần trong bóng tối, tợ hồ bên thành phố Huế là ngày, bên Nam Giao là đêm” (bài Thương Vay).
Đặc biệt có chương “Chó mèo hoang” - không nhất thiết của một địa phương nào, nhưng ở đây, con mèo có nét Huế, mà Xuân Diệu mô tả rất tinh: “quý phái chứ không trưởng giả”:
“Dầu khổ sở thế nào, những con mèo hoang vẫn giữ lấy vẻ quí phái - quí phái chứ không trưởng giả. Cách đi đứng, cách nhai nuốt, cách nâng nhẹ những vật thừa thãi đều có cái duyên của những bà hoàng sẩy ngôi hay những cung nữ hết thời. Chúng bước dè dặt, không muốn dính mình vào đất dơ, chúng có cái đặc tài giữ chân cẳng trơn tru, dù phải dậm qua nhớp nhúa. Và hễ thong thả, chúng liền tỉ mỉ tắm gội. Những cơn đói không bắt chúng lành tính sạch sẽ; tuy là mèo hoang, chúng vẫn còn là mèo”.
“Những bà hoàng sẩy ngôi, cung nữ hết thời” sống lẩn quẩn trong các cung, các phủ, hay trong dân gian, đều có cử chỉ, ngôn ngữ tạo nên phong cách Huế. Làm sao phân biệt đâu là quý phái, đâu là trưởng giả? Có lẽ Xuân Diệu suy diễn từ tiếng Pháp đối lập quí phái (noblesse) thuộc dòng họ quý tộc, nhiều đời, với trưởng giả (aristocratie) là những nhà giàu, nhưng chưa kịp có phong cách sang trọng. Molière đã chế nhạo lớp người này qua vở kịch Trưởng giả học làm sang.
“Và hễ thong thả chúng liền tỉ mỉ tắm gội, những cơn đói không làm chúng lành tính sạch sẽ”; chính xác là trạng từ tỉ mỉ nhắc đến các mệnh phụ xứ Thần kinh trang điểm công phu, có khi lòe loẹt, dù là cao tuổi.
Xuân Diệu còn tả cách đi đứng của loài mèo, cùng giống với con hổ, lượn tấm thân như sóng cuộn nhịp nhàng, trong thơ Thế Lữ, mà ta có thể nói gọn là “yểu điệu”, mà ông Bùi Minh Đức cho là “đặc tính của xứ Huế” khi trích dẫn Nam Trân:
Thuyền nan đủng đỉnh sau hàng phượng
Cô gái Kim Luông yểu điệu chèo
Chèo đò mà cũng phải “yểu điệu”, thì phải là người Huế, dù ở đây, người điệu nhiều hơn là người yểu điệu. Nhớ thơ Nguyễn Bính mô tả thiếu nữ Huế:
Loanh quanh xóm vắng đường gần,
Ấy ai làm dáng phi tần với ai.
Con sông không rộng mà dài,
Con đò không chở những người chính chuyên.
                                                (Vài nét Huế, 1941)
Lại còn hai chữ đủng đỉnh. Trong bài Thương vay nói trên, Xuân Diệu có tả tầng lớp người nghèo chung quanh đế đô: “Đời quanh Huế cũng đủng đỉnh như đời giữa Huế, người nghèo ở đây không cực hẳn, không lam lũ, không khốn cùng”.
Sự thật thì Huế như bao nhiêu thành phố khác, cũng lắm người nghèo. Nhưng sống chốn đế đô, giấy rách giữ lấy lề, họ che giấu vẻ lam lũ dưới bề ngoài bao giờ cũng chỉnh tề, tươm tất.
Còn “đủng đỉnh” thật sự là cung cách của giới quan liêu, hay các mụ các mệ, con vua cháu chúa. Lá ngọc cành vàng.
Nguyễn Công Trứ đã có lần mô tả quan lại triều đình Huế:
Dù tía võng xanh văn đủng đỉnh
Gươm vàng thẻ bạc võ nghênh ngang
Cảnh quan trường phong kiến ấy từ lâu đã hạ màn. Không biết xứ sông Hương núi Ngự ngày nay còn ai nghênh ngang, còn ai đủng đỉnh nữa hay không.
*
Dùng từ Mèo Huế là ngoa ngữ. Mèo là súc vật độc lập tự do, lúc chán ở với người thì tự giải phóng làm mèo hoang, chịu tất tả, đói lạnh như Xuân Diệu đã mô tả kỹ và hay.
Trong một thời gian lịch sử dài, mèo ít lệ thuộc vào kỷ cương loài người; nhưng khi những tiến bộ khoa học, kỹ thuật cải tiến đời sống vật chất, thì con mèo cũng có thừa hưởng. Con mèo bầu bạn, nhiều sắc lông lộng lẫy ngày nay không còn là con mèo mướp bắt chuột mà Nguyễn Trãi đã mô tả. Nó biến đổi không phải do chính sách gia huấn, mà do con người lai giống, tạo ra giống mèo mới, như giống “mèo Bắc kỳ”, Tonkinois, ngày nay không can dự gì đến con mèo Nguyễn Trãi, mà lai giống từ mèo Xiêm với mèo Miến Điện, khoảng 1950 tại Mỹ. Gọi là Bắc kỳ cho có âm hưởng viễn đông và viễn xứ. Mai kia mốt nọ, trên thị trường mèo thế giới nếu có xuất hiện con “Mèo Huế” e cũng là mạo danh để khuyến mãi.
Bài này viết vui chơi ngày Tết, đã được nhiều bạn Huế góp ý và các họa sĩ Huế, trong và ngoài nước minh họa, tác giả chân thành và thân thiết cảm ơn. Có thể gọi là… Mèo giao lưu.
Cuối cùng cũng để mua vui, xin ra câu đối, đặc biệt cho người Huế vốn sính chữ nghĩa:
Tết Mèo, bấm chuột gửi meo mèo chuột.
Xuân Tân Mão, 2011
Chú thích:
(1) Bùi Minh Đức, Từ điển tiếng Huế, nxb Văn Học, 2004.
(2) Nguyễn Xuân Kính chủ biên: Ca dao người Việt, nxb Văn Hóa, 1995.
(3) Xuân Diệu, Phấn Thông Vàng, 1939, trích trang 16-19-83, theo nxb Thanh Niên, 1989. Có in lại trong Xuân Diệu, Tuyển Tập II, nxb Văn Học, 1987.
Nguồn: tapchisonghuong.com.vn

700 năm Thuận Hóa Phú Xuân Huế một “kho” tư liệu chưa từng có về triều Nguyễn và Huế xưa



700 năm Thuận Hóa Phú Xuân Huế một “kho” tư liệu chưa từng có về triều Nguyễn và Huế xưa

Festival Nghề truyền thống Huế 2009 sắp khai mạc, trên thị trường sách xuất hiện một cuốn sách “đồ sộ” 700 năm Thuận Hóa, Phú Xuân, Huế của nhà nghiên cứu Nguyễn Đắc Xuân do Nhà xuất bản Trẻ ấn hành. Sách dày 960 tr, khổ lớn 16cm x 24cm, bìa cứng, được minh họa với trên 700 ảnh, sơ đồ, bản đồ, tư liệu gốc màu và đen trắng. Có thể xem đây là một “tập đại thành” của nhà Huế học Nguyễn Đắc Xuân.



Từ trước đến nay, đã có hàng trăm công trình nghiên cứu, tập san, tạp chí chuyên đề về lịch sử văn hóa triều Nguyễn và Thuận Hóa Phú Xuân Huế nhưng chưa thấy có công trình nào của một tác giả rộng, lớn, và sâu như cuốn sách nầy.
Tuy tựa đề cuốn sách 700 năm Thuận Hóa - Phú Xuân - Huế nhưng nhiều đề tài liên quan đến Hà Nội, Thanh Hóa, Nghệ An qua Ngũ Quảng vô đến Bình Định, Phú Yên, Biên Hòa, Gia Định, Vũng Tàu, Đồng Tháp, Kiên Giang, Côn Đảo, được sắp xếp trong các mục: Địa lý, địa danh, Lịch sử sự kiện, Triều Nguyễn xưa , Văn hóa, giáo dục, Văn học nghệ thuật, Danh nhân. Các vấn đề được giải đáp từ những sự kiện “quốc gia đại sự” đến những việc nhỏ trong các gia đình, địa phương có liên quan đến lịch sử văn hóa triều Nguyễn Huế, không những chuyện xưa năm bảy trăm năm mà có cả những chuyện nay đang diễn ra và sẽ còn tiếp nối dài dài.
Tôi đã đọc 6 tập Hỏi đáp về triều Nguyễn và Huế xưa, đọc xong mỗi tập tôi lại mong chờ được đọc các tập tiếp theo. Đến khi đọc cuốn 700 năm THPXH , tôi thỏa mãn vô cùng, ngoài nội dung 6 tập Hỏi đáp đã được biên tập, cập nhật, bổ sung nhiều hình ảnh mới, còn có thêm vô số giải đáp mới hết sức cần thiết cho việc tìm hiểu lịch sử văn hóa Triều Nguyễn, Huế xưa và nay. Các giải đáp rải rác được tập trung trong từng chuyên đề tạo cảm giác như có 6 cuốn sách nhỏ trong một tập sách lớn. Ta có thể xem đây là một cuốn cẩm nang cho những người muốn gia nhập vào ngành Huế học, cẩm nang hiếm có cho các hướng dẫn viên du lịch và cũng là một kho tư liệu, một khối đề tài dành cho sinh viên, nghiên cứu sinh Đại học làm luận văn tốt nghiệp Đại học và trên Đại học.
Cuốn sách viết theo yêu cầu của độc giả, nên bên cạnh những vấn đề phổ thông có những vấn đề rất gay cấn, phức tạp, chuyên sâu.
Nhìn chung, ngoài một số giải đáp mà nhiều sách báo đã  đề cập, cuốn sách đã làm rõ những vấn đề lâu nay độc giả mới nghe nói lờ mờ, chung chung như: Hệ thống phòng thủ trên đỉnh đèo Hải Vân, Đàn Âm hồn, Lịch sử ra đời chùa Ba Đồn, lăng mộ Kỳ ngoại hầu Cường Để, Huế - nơi hình thành tư tưởng yêu nước của Chủ tịch HCM, chuyện “đào mã - vua Tự Đức- không Bài”, cuộc đời và sự nghiệp “phù thủy” thơ Hoài Nam Nguyễn Trọng Cẩn, khu biệt giam Chín Hầm của Ngô Đình Cẩn; lịch sử các công trình xây dựng thời Pháp thuộc trên đất Huế (Tòa Khâm sứ Huế, Bệnh viện Trung ương Huế, Trường Quốc Học Huế, chợ Đông Ba, cầu Trường Tiền, Khách sạn Morin, ga Huế, nhà máy nước Huế, v.v.);
- Cuốn sách đính chính nhiều sụ kiện lịch sử: Từ chuyện nhỏ trước điện Cần chánh không có hai dãy quan tượng bằng đá như cụ Phạm Khắc Hòe đã viết, đến chuyện lớn năm 1783 Nguyễn Ánh không ra Côn Đảo như lịch sử Côn Đảo đang giới thiệu với khách du lịch, vua Duy Tân bị thực dân Pháp trả về Réunion chứ không phải nhà vua về thăm nhà trước khi theo tướng De Gaulle đi VN cộng tác với Pháp như một số sách báo lâu nay đã đăng;
- Qua 700 năm THPXH nhiều bí ẩn được khám phá: Phủ Dương Xuân, Cung điện Đan Dương ở ấp Bình An, Lịch sử chùa Pháp Vân (chùa Khoai) - nơi xuất phát cuộc biến động năm 1866, Am Long thuyền bên phải Phu Văn Lâu, bức tranh thứ sáu trong Cung An Định là cảnh lăng Đồng Khánh, Nhà thờ Tây Linh làm trên đất Linh Hựu quán (nhà thờ Lão Tử thời Nguyễn).v.v.
- Cuốn sách tiếp tục cụ thể hóa những giá trị làm nên Trung tâm văn hóa lịch sử Huế: Nhã nhạc, các lễ hội, ẩm thực, nhiều nhà văn hóa trí thức tiêu biểu của Huế xưa và nay - Định Viễn Quận Công, họa sĩ Lê Văn Miến, Đạm Phương nữ sử, nhà buôn Viễn Đệ, bà Nguyễn Đình Chi, nhà thơ Nam Trân Nguyễn Học Sĩ, họa sĩ Tôn Thất Sa, họa sĩ Phạm Đăng Trí, nhạc sĩ Trịnh Công Sơn.v.v. Ngoài Nguyễn Phước tộc, lần đầu tiên có một cuốn sách đề cập đến mối quan hệ của nhiều gia đình, họ tộc “bá tánh” với văn hóa lịch sử như các họ Nguyễn Khoa, Thân Trọng, Hoàng Trọng, Trần Thanh....     
Phần đặc biệt của cuốn sách giới thiệu những nhân vật, những sự kiện, những di tích liên quan đến các phong trào đấu tranh yêu nước như Nhà sách Thuận Hóa - cơ quan bí mật của Xứ ủy Trung Kỳ, Nghĩa địa Phan Bội Châu, Bia Thanh tử Đạo, các nhà sư đã tự thiêu vì Đạo pháp và dân tộc như Thích Thanh Tuệ, Thích Tiêu Diêu, Thích Chơn Thể.v.v
Hoàn thành công trình nầy tác giả đã sử dụng một “kho” tư liệu thành văn Việt, Hán, Pháp, tư liệu điền dã trong nhiều năm, trên nhiều vùng đất nước. Độc đáo nhất là những tư liệu thành văn và tư liệu sống mà tác giả đã sưu tập được sau 5 lần đi Pháp và đi Mỹ. Những tư liệu đầu tay đặc biệt quý hiếm như Bản sao Quyết định của Bộ Thuộc địa Pháp mang số 7312/102, ký ngày 3-12-1945 trả Hoàng tử Vĩnh San về lại Réunion, Thư của Hiệu trưởng trường Quốc Học Chouquet gởi cho Khâm sứ Pháp viết sơ lược nhân thân Nguyễn Sinh Côn đề ngày 7-8-1908 (tư liệu thành văn đầu tiên về Chủ tịch Hồ Chí Minh sau nầy). Bên cạnh những tư liệu quý có rất nhiều ảnh lịch sử quý hiếm như các ảnh chân dung vua Hàm Nghi những năm bị lưu đày ở Alger, ảnh Công chúa Như Lý, ảnh Hậu Bổ, nhà và ảnh của mẹ con bà Jenny Woong (Hoàng Tiểu Lan, vợ người Trung Quốc của CH Bảo Đại) ở Đà Lạt, ảnh hai bà thứ phi Giai Triệu và Chí Lạc của vua Thành Thái.v.v.  
700 năm THPXH  là một cuốn sách quý, nhưng cơ chi có thêm phần phụ bản lịch sử biên niên 700 năm Thuận Hóa Phú Xuân Huế và một bản tra cứu sắp theo vần ABC nữa thì sáng giá vô cùng. Chúc mừng nhà nghiên cứu 73 tuổi Nguyễn Đắc Xuân với cuốn sách bổ ích cho đời nầy và con cháu mai sau.
Bến Ngự, 11-6-2009
Thanh Tùng (Báo Tiền Phong)

Thứ Năm, 6 tháng 6, 2013

Con gái Nam Phổ ở lổ trèo cau


Vườn cau Nam Phổ

Tặng Tạ Quang Bửu

Cô gái Nam Phổ ở lỗ trèo cau
(Ca dao)

Trung thu: cô độc quả trăng tròn...
Chỉ có sân Trời vắng trẻ con.
Ánh lướt da cau phơi vẻ trắng:
Thoạt trông còn ngỡ chiếc đùi non.




Con gái Nam Phổ ở lổ trèo cau .
-------------------------------
Chuyện nớ có thiệt khôn rứa ? Thiệt, khôn tin về Nam Phổ rình coi.
Mà ở lổ là ở chỗ mô? hơ hơ .......ở lổ là ở truồng đó mà.

Đó, người Huế nói vậy đó các bạn, hiểu sao được. Chính tôi là gốc Huế chính hiệu cả hai bên nội ngoại mà cũng không hiểu chữ "ở lổ" là dấu hỏi hay dấu ngã, có lẽ dấu hỏi (đoán vậy).
Giọng Huế là giọng nói khó ghi lại nhất trong các giọng của các vùng miền trong nước Việt, vì sao? vì nghe phát âm ta chẳng biết âm đó tận cùng có g hay không (muốn và muống) tận cùng t hay c (tắt hay tắc) và dấu hỏi hay dấu ngã (lỗ hay lổ) ...vì vậy tôi mới đoán là "ở lổ". Đó chưa nói là nói chớt như cái dà (nhà) anh (eng) .....cùng một mớ mô tê răng rứa thì đố ai mà hiểu cho kịp?

Trở lại chuyện cau làng Nam Phổ và con gái ở lổ để trèo
Nói nghe mắc ham hả các bạn, làng Nam Phổ ở Huế, bọn con gái ở truồng leo cây cau, còn chi sexy và gợi cảm cho bằng? rình mò đi coi một bữa chơi cho đã đời chứ.
Nhưng rồi sự thật phủ phàng, con gái Huế làng Nam Phổ đâu có phải thích biểu dương lực lượng như vậy, câu nói đó chỉ có nghĩa là làng Nam Phổ nhiều cau lắm, nhiều đến độ bọn con gái nhỏ xíu còn ở truồng cũng biết trèo cau nữa là người lớn.

Nhà thơ Nam Trân đã viết về cau Nam Phổ và nghề phơi cau khô như sau
"...... Còn về cau, trái cau Nam Phổ tại răng ngon? Thì cũng tại đất Nam Phổ đối diện bên kia sông với Chợ Dinh rất đắt đỏ vì phì nhiêu và cư dân chen chúc nên người dân Nam Phổ kén trồng giống “Cau bánh dầy” với sự chăm chút vun xới bón tưới. Phải hội đủ 4 tiêu chuẩn để gọi là Cau Nam Phổ “bánh dầy” kê ra với câu thiệu vần nhịp như sau: Mỏng vỏ, Nhỏ xơ, Tơ lòng, Trong ruột.
“Mỏng vỏ” và ”Nhỏ xơ” là hai yếu tố nói lên cái cấu tạo mảnh dẻ của xơ thớ ở phần cùi cau nên nhai nhá mềm giòn dưới hàm răng. Còn “tơlòng” là phần hột cau có những đường đo đỏ nho nhỏ giống như vi ti huyết quản dưới da người. “Trong ruột “ là khi bổ cau thành ba, thành sáu miếng thì thấy ở giữa trung tâm trái cau có một vòng “ màng mạc”trong trong mọng nước .

Đến mùa cau rộ, cha mẹ tôi gọi mối thu mua hàng trăm gánh cau tươi từ Nam Phổ , Kim Luông gánh đến bán. Trong nhà thường mướn cả chục nhân công đến róc vỏ cau, tiện chũm và bổ cau ra từng miếng xong sắp trên những cái xề lớn đường kính hai thước tây để hong khô trên những chảo than hồng phủ tro được vây kín lại bằng cái bồ bằng cót đan khít mắt. Cau khô thường chứa trong một cái bồ khổng lồ chiếm hết một gian nhà. Nếu cau ẩm mốc thì được hong lại bằng khói diêm sinh. Khi cần gửi đi, cau khô được đóng vào những giỏ tre đan như cái bội gà lớn sau khi lót tơi lá cau và mo cau cho thật kín. Những giỏ tre đan thì cha mẹ tôi đặt mối từ những làng Bầu la hay Dạ lê. Còn những tơi cau là những lá cau đan lại với những dây dừa bện lại. ( Hồi nhỏ tôi đi học vẫn thường mang tơi cá đan bằng lá cau này, còn buổi trưa ăn cơm gói trong những mo cau, chữ “mo” chỉ nghe ở Huế như câu hát nhạo: Tiếng tây tui để ba mo, Đến khi Tây hỏi, tui mò không ra!)


Huế đẹp, Huế thơ


Vài nét về Nam Trân Học trò trong Quảng ra thi... Nam Trân: Con người tài hoa Một số nhà văn tuổi Mùi Hà nội, Đẹp và Thơ Đường phố Đà Nẵng mang tên danh nhân: Nhà thơ Nam Trân  Người đương thời thơ mới bàn về thơ Nam Trân Nam Trân - sự gắn bó giữa không gian Huế và tâm hồn thi nhân Tìm lại Huế, Đẹp và Thơ - Giới thiệu tập thơ Nam Trân Nam Trân với Huế Hành xử và đóng góp của một trí thức yêu nước Diễn văn nhân kỷ niệm 100 năm sinh và 40 năm mất nhà thơ - dịch giả Nam Trân Người Quảng trên đất cố đô Đọc lại 'Huế, Đẹp và Thơ' của Nam Trân Kỷ niệm 100 năm ngày sinh cố nhà thơ - dịch giả Nam Trân Vài thổ âm, thổ ngữ của người Quảng "Người Xô Viết" với các nhà văn đất Quảng thời kháng chiến chống Pháp (1946-1954)

Đẹp và Thơ - Cô gái Kim Luông Anh chài tự đắc Bài hát của đại phi công Bài thơ nhất cú hay là nỗi khổ tâm của thi sĩ Bỏ quách lối thơ xưa Cánh cửa Cảnh quê Cầu bạn Chôn hoa Điếu thuốc cháy suông Đời người Eng Gặp khách đong đưa Giận khúc Nam ai Hà Nội, mưa phùn Hái hoa hồng Hồ Tịnh Tâm hay chuồn chuồn Huế, đêm hè Huế, mưa dầm Huế, ngày hè Khiêu vũ 1935 Khoá xuân Liên tưởng Một câu thơ của ông Tú Mỡ Mùa đông, cánh đồng An Cựu  Nắng thu Núi Ngự, sông Hương Ngại ngùng khi bước chân ra Sầm Sơn trường hận  Sóng bạc tình Sơn còn ướt Tiếng chuông Diệu Đế Trên núi Ngự Trước chùa Thiên Mụ Vườn cau Nam Phổ

Chuyện em Thanh (Nhặt được của rơi, trả người đánh mất) Mùa xuân trong vườn Em yêu mùa hè Sức mồ hôi Bàn tay mẹ Chớm thu Tựu trường

Những bài học về văn hóa và ngôn ngữ từ một lời cảm ơn của chủ tịch Hồ Chí Minh Nhật kí trong tù tròn bảy mươi năm (1943-2013) 70 năm Ngục trung nhật ký Kỷ niệm 70 năm "Ngục trung nhật ký": Sự trở lại của một kích thước lớn  “Nhật ký trong tù” – 70 năm sáng mãi tinh thần lạc quan của Bác 60 năm Ngày Bác Hồ viết bài cuối của tập thơ Nhật ký trong tù (10/9/1943 - 10/9/2003)  Nam Trân và bản dịch Nhật ký trong tù Sự bất hủ của Nhật ký trong tù Sức lan tỏa của một hồn thơ lớn Trở lại hành trình của nguyên tác  Ngục trung nhật ký  Nhật ký trong tù có 133 hay 134 bài ? Nhà xuất bản Văn học tiếp thu phê bình về việc tái bản Nhật ký trong tù Đọc lại bài thơ Khán “thiên gia thi” hữu cảm (Nhân 70 năm Nhật ký trong tù) Dịch thơ: nói dễ, làm khó! “Nhật ký trong tù và lời bình” hay trò đùa của nhà phê bình Lê Xuân Đức? – Kỳ 1: Tan một nguyên tác thơ Hồ Chí Minh “Nhật ký trong tù và lời bình” hay trò đùa của nhà phê bình Lê Xuân Đức? – Kỳ 2: Đạo văn để bình văn “Nhật ký trong tù và lời bình” hay trò đùa của nhà phê bình Lê Xuân Đức? – Kỳ 3: Không có chữ dạy người biết chữ “Nhật ký trong tù và lời bình” hay trò đùa của nhà phê bình Lê Xuân Đức? – Kỳ 4: Đạo đồ giả và sáng tạo nhầm Trở lại "số phận" Nhật ký trong tù Ra mắt tác phẩm “Nhật ký trong tù” của Hồ Chủ tịch ở Cộng hòa Czech Vu cáo chính trị – mập mờ học thuật

Phát huy vai trò nhân sĩ trí thức trong sự nghiệp đại đoàn kết toàn dân tộc Hội Nhà văn Việt Nam đẩy mạnh các hoạt động lý luận, phê bình văn học Văn học kháng chiến chống Pháp ở Bình Thuận 60 năm Viện văn học và tạp chí nghiên cứu văn học

Năm mới nhớ về một thời gian khó  Bao cấp

Ra mắt hai cuốn Sưu tập Phan Khôi: Tác phẩm đăng báo 1933-1934 và Tác phẩm đăng báo 1935 Chế Lan Viên Tấm chân tình đằng sau những tiếng cười Nữ sĩ Anh Thơ: Đa tài, đa tình, nhưng cũng đa đoan

Qua đèo Ngang Hai sắc hoa ti gôn Người vợ (Nguyễn Khải)

Một người Hà Nội- Nguyễn Khải Đi tìm cái tôi đã mất (Nguyễn Khải) Dại khôn Nguyễn Khải Hồi kí của Nguyễn Đăng Mạnh về Nguyễn Khải Muối của rừng (Nguyễn Huy Thiệp) Tuổi 50 Làm sao cho người Việt tin nhau?