Nam Trân

Nam Trân

Chủ Nhật, 14 tháng 7, 2013

CHẾ LAN VIÊN



CHẾ LAN VIÊN 
 (Bài viết của cố nhà văn Xuân Sách, do con trai ông - anh Ngô Nhật Đăng đăng tải)
Chúng tôi, Nguyễn Khải, Vương Trí Nhàn và tôi ngồi trong căn phòng nhỏ vốn là toilet của ngôi nhà số 4 Lý Nam Đế. Tòa soạn Tạp chí Văn nghệ Quân đội được ở ngôi nhà này là một đặc ân.
Hệ thống cấp nước đã hỏng nên phòng được cải tạo thành phòng văn mùa hè thật mát mẻ. Được hai ông bạn vàng thách đố, tôi đã ứng tác ngay bài thơ chân dung về Chế Lan Viên. Nghe xong anh Khải nói ngay:
 Ông Sách đã chuốc lấy kẻ thù số một rồi.
Vương Trí Nhàn lập tức ghi bài thơ ra giấy, và chắc chắn ngay ngày mai bài thơ sẽ được lan truyền. Tôi biết anh Khải không dọa suông, anh hiểu Chế Lan Viên rất rõ. Có lần anh kể ông Chế nói chuyện gì đó ở Hội, ông Khải biết là nói sai, đêm về ông Khải chuẩn bị mọi lý lẽ để hôm sau cãi với nhà hùng biện. Nhưng hôm sau vừa gặp nhau ông Chế đã nói ngược lại những điều hôm qua cũng bằng những lý lẽ rất sắc sảo không thể bác bỏ. Tôi cũng được nghe có người nhắc một câu của ông Chế: “Mỗi người cần có một cái “Ô” rồi sẽ có Autorité (quyền lực) rồi sẽ có Automobile (xe ô tô). Tôi tất nhiên gặp ông nhiều lần nhưng thật ra chưa bao giờ nói chuyện với nhau. Tôi có cái tật rất ngại gặp những người danh tiếng. Ông ở căn phòng nhỏ ở cái biệt thự số 51 Trần Hưng Đạo, nơi ở của ông cố vấn Vĩnh Thụy thời Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Bây giờ ngôi nhà trở thành cái tổ ong của làng văn nghệ. Vừa là trụ sở vừa là nơi ở của cán bộ của các nhà văn, nhà nhạc, nhà họa, nhà nhiếp ảnh vv…
 Căn phòng ông Chế có treo tấm biển “Ai vào chơi xin không ngồi quá 5 phút”. Kể cũng phải, dân văn nghệ vốn vui đâu chầu đấy cái kiểu ông Lý trưởng vào nhà ai ăn giỗ thấy ông hương kiểm, hương bạ đi qua lại gọi vào thì chủ nhà chỉ có chết. Tôi chưa vào đó lần nào và cũng chưa bao giờ thấy ông đến Văn nghệ Quân đội. Tuy nhiên tôi lại từng bị phê bình vì ông tội xuống các đơn vị nói chuyện thơ chỉ trích thơ ông mà không trích thơ Tố Hữu. Chẳng lẽ bây giờ tôi lại trở thành kẻ thù số một của ông.
Một buổi tối tôi ra ga Hàng Cỏ đón một nhà văn đi Hungary về. Thời đó đi nước ngoài thường bằng tàu hỏa liên vận. Đang đứng ở sân ga tôi nhác thấy nhà thơ Chế Lan Viên đang đi bộ lững thững dọc đường ke. Tôi hiểu ra ông đi đón vợ là nhà văn Vũ Thị Thường cũng đi trong đoàn.
Tôi biết ông đã đọc bài thơ tôi viết về ông. Một anh bạn kể với tôi anh đã đánh máy bài thơ tôi viết gửi ông Chế và đề nghị ông đưa vào tuyển tập thơ mà ông đang lựa chọn. Tôi bảo anh bạn “Cậu làm thế khác gì thư nặc danh”. Anh bạn cười: “Em khoái lắm viết về ông Chế như vậy mới đã”
Nhà thơ lớn nhìn thấy tôi, ông bắt tay tôi rồi ôm vai tôi vừa đi vừa nói :
- Mình vừa đọc một truyện cực ngắn và cực hay của Pháp mình kể cho Sách nghe. Câu chuyện như sau. Một nhà tư bản lớn nổi tiếng giàu có một lần đi nghỉ mát nhưng lại chọn một thị trấn hẻo lánh ven biển. Viên thư ký của nhà tư bản đến gặp ông thị trưởng của thị trấn nọ trình bày ý định. Ông thị trưởng vừa mừng vừa lo. Viên thư ký nói chỉ cần ông đồng ý, ông chủ tôi sẽ xây một biệt thự. Rồi biệt thự lộng lẫy được xây lên. Viên thư ký lại nói ông chủ tôi không thích màu cát trắng mà thích cát vàng, cả một dải bờ biển được đổ cát vàng. Rồi ông chủ tôi không thích nước biển màu xanh, biển lại được phun hóa chất đổi thành màu tím biếc theo ý nhà tư bản, rồi nữa ông chủ tôi không thích thứ mây lãng đãng ở vùng trời này mà thích các khối mây hình lục lăng, bát giác. Thế là đại bác được đưa tới bắn lên trời để nén mây. Ông thị trưởng như người trong cơn mơ, còn viên thư ký báo cho ông chủ đến. Máy bay hạ cánh nhà tư bản đi dạo ngắm trời xanh, cát vàng, biển tím và mây nén sung sướng thốt lên: “Chao ôi, thiên nhiên đẹp như thế này mà có những kẻ chỉ lo làm giàu thì thật ngu ngốc”
Tôi không nghi ngờ thái độ và cử chỉ của ông mà tôi cứ tự hỏi mình: Thế là thế nào nhỉ? Tiếng còi tàu cất lên, tàu đang vào ga và tôi chào “Kẻ thù số Một” của mình rất trân trọng.
 Một lần vào năm 1968 có cuộc họp người viết trẻ ở Hà Nội. Nhà thơ trẻ Yên Đức ở Quảng Ninh về họp có ghé thăm tôi, anh kể :
 -Hôm họp vừa rồi giờ giải lao bọn em quây quần bên anh Chế Lan Viên, bất ngờ anh ấy hỏi: “Các cậu có ai nghe được chân dung của Xuân Sách chưa?”. Một cậu trả lời: “Bọn em chỉ nghe loáng thoáng…. ”
“Các cậu nên đọc nên biết, theo tôi đó là tinh hoa của Xuân Sách”
Lại một lần nữa tôi bất ngờ. Vậy là sao? Ngoài bài thơ tôi viết về ông tôi còn viết một bài về nhà văn Nguyễn Thị Thường thuộc loại ác chiến. Có lần nhà thơ Khương Hữu Dụng đã đến gặp tôi nói “Cậu viết về Chế Lan Viên hơi ác”. Một thời gian sau ông lại đến, tôi xin nói thêm về cụ già Khương (tên thân mật chúng tôi thường gọi ông). Ông say thơ một cách kỳ lạ. Thỉnh thoảng ông hay đến chơi với tôi, tôi rất vui và kính trọng ông, nhưng trong bụng cũng lo là mỗi lần như vậy thường mất đứt một buổi để hầu chuyện cụ.
Lần đó tôi mất đứt cả buổi sáng hầu chuyện cụ mỗi một đề tài thơ. Đến trưa tôi cầm cái bát, đôi đũa nói với cụ :
-Bây giờ cháu xin lỗi phải đi ăn cơm, ăn ở nhà ăn tập thể đi muộn là mất suất.
Cụ vui vẻ đi cùng tôi và vẫn tiếp tục nói về thơ, đến tận cửa nhà ăn cụ mới nói :
- Hôm nay mình đến gặp cậu chỉ để nói một câu, hôm trước mình nói cậu viết về Chế Lan Viên hơi ác, nhưng bây giờ mình thấy hình như cậu viết đúng.
Tôi không nhớ là bao lâu nữa cụ lại đến, vừa trông thấy tôi cụ giơ cả hai tay lên trời phấn khích nói to :
- Tiên sư mày, mày là thằng tiên tri. Mày viết về Chế Lan Viên rất đúng.
Được cụ già Khương mắng câu “Tiên sư thằng Tào Tháo” thì còn gì hơn nữa.
Năm 1976 Đại hội Đảng tiến hành trong không khí vui mừng chiến thắng. Có tin đồn giới văn nghệ sẽ được một suất Trung ương Ủy viên, người ấy là Chế Lan Viên. Đó là niềm mơ ước không chỉ của riêng ai. Có người không tin nói nếu văn nghệ được một suất thì đó phải là ông Nguyễn Đình Thi, người hoạt động trong chính trường rất sớm, đương kim Tổng thư ký Hội nhà văn, lại nữa vợ ông là Phó giám đốc Bệnh viện Việt-Xô nơi chữa trị cho các cán bộ cấp cao. Giàu vì bạn sang vì vợ là lẽ thường. Nhưng có người nói ông Thi bị cái “phốt” Con nai đen. Điều này tôi đã cảnh báo trong chân dung về ông “Bay chi mặt trận trên cao ấy/Quên chú nai đen vẫn đứng chờ”. Một hôm chị Lê Minh con nhà văn Nguyễn Công Hoan đến gặp tôi kể có nghe tin đó và chạy đến hỏi ông Lê Văn Lương chú ruột chị (Ông Lương lúc đó là Trưởng ban tổ chức Trung ương Đảng):
 -Có phải lần này ông Chế Lan Viên vào Trung ương không chú?
- Cháu tưởng vào Trung ương dễ thế sao?
Rồi ông ấy đọc bài thơ của anh viết về ông Chế. Ủy viên Bộ Chính trị cũng thuộc thơ anh rồi đấy.
- Như thế là phúc hay họa hở chị
- Anh yên tâm, ông Lương được lắm đấy.
Tôi cũng tình cờ gặp ông Lương, lần đó anh Thanh Tịnh bảo tôi cụ Hoan muốn gặp Sách. Tôi đến nhà cụ.
- Tôi đã được nghe bài thơ anh viết về tôi, để tôi đọc xem có có đúng không.
Ông đọc xong rồi cười rất sảng khoái
- Thưa bác, bác đọc đúng. Bác có trách mắng gì không ạ?
- Tôi cũng ưa châm biếm, anh viết thế là hơi nhẹ, nhưng tôi cũng bị trời phạt đó . Đống rác cũ tập hai bị triệt sản không chào đời được.
Lúc đó ông Lê Văn Lương tới, dáng cao gầy mặt khắc khổ. Ông đứng trước cửa chắp tay :
- Thưa anh nghe tin chị mệt em đến thăm, xin phép anh cho em vào thăm chị.
Cụ Hoan nói:
- Chú vào đi.
Tôi có thiện cảm với ông Lương. Đại thần mà còn giữ được nề nếp gia phong như vậy là hiếm.
Rốt cuộc ông Chế bị trượt, tất nhiên không phải tại bài thơ của tôi.
Năm 1987 Hội Văn nghệ Đặc khu Vũng Tàu-Côn Đảo của chúng tôi mở trại sáng tác, tôi mời hai thầy về giảng bài là nhà văn Nguyễn Khải và nhà thơ Chế lan Viên.
Nhà thơ đưa theo cô con gái Vàng Anh, tôi cử một cậu nhân viên của Hội đưa Vàng Anh đi chơi và tắm biển.
 Anh em văn nghệ rất vui và hai thầy cũng cũng tận tâm giúp đỡ. Buổi chiều tôi thường đi dạo cùng với thầy Chế dọc bờ biển. Một lần chúng tôi gặp một xác người vượt biên bị sóng biển đánh giạt vào bờ, một ông già. Thi hài được đắp chiếu và một bát hương bên cạnh chờ làm thủ tục chôn cất. Buổi hoàng hôn trước trời biển mênh mông, tôi đột ngột đọc to câu thơ :
“Đất nước đẹp vô cùng mà bác phải ra đi”
 Nhà thơ nắm nhẹ tay tôi :
-Văn chương nhiều khi thật đáng sợ
Tôi thẳng thắn tâm sự với ông nhiều chuyện. Thấy ông trầm tư nhiều hơn.
Hết trại ông hẹn tôi :
- Khi nào lên Sài Gòn ghé nhà mình, mình ở tận Bà Quẹo, đường ngoắt ngéo lắm, mình đã vẽ sơ đồ đây để Sách dễ tìm.
Tôi đến nhà ông một căn nhà có thể gọi là tồi tàn so với ông, tôi nghĩ Sài Gòn còn nhiều ngôi nhà tốt hơn dành cho ông. Tôi không hỏi nhưng ông nói :
- Mình không biết làm phiền người khác, được sao ở vậy, cũng giống Sách ở ngôi nhà chiến khu Đ giữa thành phố du lịch Vũng Tàu đất rộng người thưa.
Hồi đó tôi cũng chưa có nhà, ở một căn gia binh trong khu đất đầy cây cỏ hoang dại nên anh em gọi đùa là chiến khu Đ.
Chúng tôi ngồi nói chuyện phiếm, Chế Lan Viên hỏi :
- Mình nghe nói, hồi Sách lên Tam Đảo có gặp ông Lành lên đó đọc các tài liệu sưu tập các chuyện tiếu lâm dân gian và ông ấy nhận xét “Cực kỳ phản động cực kỳ hay”?
- Đúng, tôi chẳng thể bịa ra được một câu như thế. Câu đó là của hai ông Tố Hữu, một là của ông quan, một là của nhà thơ. Vế trên thì còn phải bàn chứ vế dưới thì hoàn toàn chính xác. Đúng là cực kỳ hay như mấy câu này :
Tôn Đản là của vua quan
Vân Hồ là của trung gian nịnh thần
Đồng Xuân là của thương nhân
Vỉa hè là của nhân dân anh hùng
Chắc hồi đó chị Thường cũng phải ra Vân Hồ mua hàng, tôi cũng vậy. Cũng là lớp trung gian nịnh thần, tình đã gian mà lý cũng gian cãi làm sao được với nhân dân anh hùng ngoài vỉa hè. Trong giới công chức ai chẳng mơ lên Vân Hồ, Đặng Dung rồi Nhà thờ, Tôn Đản được mua hàng hiếm và rẻ, bệnh tật được vào Việt-Xô chữa trị. Chắc anh chị còn nhớ vụ anh Trúc Đường anh ruột nhà thơ Nguyễn Bính, bị bệnh hiểm nghèo chỉ có Viêt-Xô mới có thầy có thuốc. Nhưng anh Trúc Đường chỉ là cán sự 4 tương đương Trung úy bên Quân đội thì làm sao đủ tiêu chuẩn. Bên sân khấu cử người lên gặp ông Tố Hữu đề nghị đặc cách cho anh Trúc Đường lên chuyên viên để vào Việt -Xô may ra cứu được. Ông Tố Hữu đồng ý nhưng ở xứ ta quyền lực như ông ấy cũng không thể ký rẹt cái là xong. Nước xa không cứu được lửa gần, khi có quyết định thì anh Trúc Đường cũng đã về trời.
Hay như mấy câu nói về tiêu chuẩn chọn chồng của các kiều nữ Hà Nội :
Một yêu anh có may ô
Hai yêu anh có cá khô ăn dần
Ba yêu rửa mặt bằng khăn
Bốn yêu có thuốc đánh răng hàng ngày
………………….
Một lần tôi đi họp trong giờ nghỉ tướng Lê Quang Đạo đọc câu thơ tập Kiều “Bắt cởi trần phải cởi trần/Cho may ô mới được phần may ô”. Rồi ông cười sảng khoái khen hay.
Mấy thứ đó áo may ô ba lỗ, khăn rửa mặt, kem đánh răng…phân phối về thường ít hơn số người nên phải bốc thăm đấy là chưa nói đến cả cơ quan chỉ được phân một đôi lốp xe đạp Sao Vàng thì còn phải họp bàn nát nước mới quyết định phân cho ai. Bác Thanh Tịnh là người thủ phận mà trước cảnh này đã nghĩ ra một vế đối cực hay :
Cái cứt gì cũng phân, mà phân thì như cứt
Tôi nhại giọng Huế của anh Thanh Tịnh “Cái cức gì cũng phâng, mà phâng thì như cức” làm hai ông bà nhà thơ cười lăn lộn.
Tôi hỏi :
- Anh chị thử đối xem.
- Sách là ông đồ xứ Thanh quê Trạng Quỳnh còn chịu, huống chi bọn mình.
Tôi kể cho hai ông bà nhà thơ nghe một câu chuyện hậu trường. Hồi tôi vào chiến trường Trị Thiên Huế, vùng miền tây có thứ bệnh sốt rét ác tính nguy hiểm. Bác sĩ Đặng Văn Ngữ cũng vào đây, ông đã dùng chính thân mình làm mồi cho muỗi đốt để nghiên cứu tìm ra thuốc chữa cho bộ đội và ông đã hy sinh trong chuyến đi này. Ở đơn vị tôi đến có một sỹ quan của Bộ Tổng tham mưu vào công tác, không may ông bị sốt rét ác tính và qua đời tại mặt trận. Ông lại là em ruột của một nhà lãnh đạo, nên đơn vị phải cử đồng chí chính ủy và bác sỹ ra Hà Nội báo cáo. Ra đến nơi hai người đến báo cáo trước với Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị. Nghe xong vị Thượng tướng nói :
-Thế là được, chú ý nói gọn ghẽ hơn, cần bộc lộ tình cảm. Ông nhấn mạnh với vị bác sỹ: “Cậu phải chú ý đến đồng chí lãnh đạo, đề phòng nghe tin dữ ông bị sốc xảy ra chuyện gì phải có cách cấp cứu kịp thời
Hai người làm đúng bài bản. Vị bác sỹ luôn nhìn vị lãnh đạo với sự nhạy bén của thầy thuốc. Khi ông chính ủy báo cáo xong lấy khăn lau nước mắt thì đồng chí lãnh đạo đứng bật dậy giơ nắm tay phải hô to :
 - Tinh thần của các chiến sỹ hy sinh vì sự nghiệp cách mạng bất diệt.
 Ông bà chủ căn nhà Bà Quẹo nghe xong cười rất sảng khoái.
 Sau này tôi có đọc một số bài thơ trong di cảo của Chế Lan Viên. Những bài thơ cũng rất Chế Lan Viên ở một gam khác. Tôi cứ nghĩ về ông, những vấn đề như tài năng và nhân cách, bản lĩnh và thói xu thời, trung thực và trí trá. Không riêng ông và còn nhiều người khác nữa mà tôi biết, thật khó lý giải cho rành mạch. Có lần nhà văn Tô Hoài kể tôi nghe hồi còn ở chiến khu nhà văn Ngô Tất Tố sau một buổi kiểm điểm tư tưởng, quẹt nước mắt, nước mũi vào cột lán than: “Làm người thật là khó”. Cái ý ấy đã giúp tôi viết chân dung về nhà văn tôi chưa từng được gặp :
Tài ba thằng mõ cỡ chuyên viên
Chia xôi chia thịt lại chia quyền
Việc làng việc nước là như vậy
Lộn xộn cho nên phải tắt đèn
Đã lộn xộn mà còn tắt đèn nữa thì biết đâu mà lần.
Đó là một vài mẩu trong cái kho tàng cười ra nước mắt…. Không hiểu người uyên bác như anh Hoan có lần ra không? 

Muối của rừng



Muối của rừng
Nguyễn Huy Thiệp

Sau Tết Nguyên đán một tháng là thời gian thích nhất ở rừng. Cây cối đều nhú lộc non. Rừng xanh ngắt và ẩm ướt. Thiên nhiên vừa trang trọng, vừa tình cảm. Điều ấy một phần là do mưa xuân.

Khoảng thời gian này mà đi trong rừng, chân dẫm lên lớp lá ải mục, hít thở không khí trong lọc, thỉnh thoảng lại được thót mình bởi một giọt nước trên cây rỏ xuống vai trần thì thật tuyệt thú. Tất cả những trò nhố!lhá ng đê tiện vấp phải hàng ngày hoàn toàn có thể rũ sạch bởi một cú nhảy của con sóc nhỏ trên cành dâu da.

Chính dịp đó ông Diểu đi săn.

ý nghĩ đi săn nảy sinh khi thằng con học ở nước ngoài gửi về biếu ông khẩu súng hai nòng. Khẩu súng tuyệt vời, nhẹ bỗng, hệt như một thứ đồ chơi, thật nằm mơ cũng không tháy được. ở tuổi sáu mươi, với khẩu súng mới, đi săn trong rừng vào một ngày xuân kể cũng đáng sống.

Ông Diểu nai nịt, mặc quần áo ấm, đội mũ lông và dận đôi giày cao cổ. Để cho cẩn thận, ông còn mang theo cả nắm xôi nếp. Ông đi men theo suối cạn, cứ thế ngược lên mó nước dầu nguồn. Cách mó nước một dặm là vương quốc của hang động đá vôi.

Ông Diểu rẽ sang lối mòn ngoằn ngoèo đi miết. Chim xanh đầy trên rặng gắm hai bên lối mòn nhưng ông không bắn. Với khẩu súng này mà bắn chim xanh thì thật phí đạn. Chim xa nh ông chén chán rồi. Ngon thì ngon nhưng có vị tanh. Nhà ông thiếu gì chim. Chim bồ câu nhà ông có đầy. Đến chỗ ngoặt, ông Diểu giật mình bởi một tiếng soạt trong lùm dẻ gai. Một chùm dây màu sặc sỡ tung trước mắt ông. Ông nín thở: một đôi gà rừng ton tón lao về phía trước, đầu chúi xuống, kêu quang quác. Ông Diểu rê nòng súng theo. "Bắn sẽ trượt thôi! " Ông nghĩ bụng và ngồi bất động ở trong tư thế như vậy rất lâu. Ông muốn chờ rừng yên tĩnh lại. Đôi gà rừng sẽ nghĩ là chưa gặp người. Như thế tốt cho chúng nó. Cũng tốt cho ông.

Dãy núi đá cao ngất hùng vĩ. Ông Diểu ngắm nhìn dể lượng sức mình. Nã được một chú khỉ hoặc chú sơn dương thì thật đâ đời. Sơn dương thì khó, ông Diểu biết thế. Giống này bắn được chỉ nhờ ở ngẫu nhiên thôi. Ông Diểu không tin vận may sẽ đến.

Cân nhắc kỹ, ông tính đi men chân núi đá vôi sang rừng dâu da săn khỉ. Chắc ăn hơn mà đỡ tốn sức. Đây là Hoa Quả Sơn, Thủy Liêm Động của thung lũng này.

ở rừng dâu da, khỉ có hàng bầy. Việc bắn được một chú khỉ với ông không khó. Ông Diểu dừng lại mô đất có cây dây leo. Không biết thứ cây này là thứ cây gì, lá bạc phếch giống như lá nhót, những bông hoa vàng như hoa tai rủ xuống tận đất. Ông ngồi đấy lặng lẽ quan sát. Cần xem bọn khỉ có ở đây không? Loài thú này khôn tựa người, khi kiếm ăn bao giờ cũng có canh gác. Con gác rất thính. Không thấy nó, đừng có hòng cuộc săn thắng lợi, đừng có hòng bắn được con át chủ bài. Con át chủ bài cũng là khỉ thôi. Nhưng đây là con khỉ của ông, là con ấy chứ không con khác. Vì vậy ông phải chờ, phải có cách thì mới bắn được.

Ông Diểu ngồi im dễ đến nửa giờ. Mưa xuân mỏng và mịn. Thời tiết ấm. Dễ đến rất lâu ông Diểu mới lại có dịp ngồi yên thế này, không nghĩ gì không buồn không vui, không lo lắng, cũng không tính toán. Sự tĩnh lặng bìnb thản của rừng xuyên suất qua ông. ào một cái, từ trong rừng dâu da bỗng như có tiếng quẫy động của một con vật khổng lồ. Ông Diểu biết là con đầu đàn đã đến. Con khỉ này cũng gớm lắm đây. Nó xuất hiện với một nghi lễ vương chủ. Tự tỉn đến thô bạo. Ông Diểu mỉm cười và chăm chú nhìn.

Sau tiếng dộng vài phút thì con đầu dàn đến thật. Nó văng mình rất nhanh đến nỗi gần như không có phút nghỉ ở mỗi chặng dừng. Ông Diểu thán phục vì sự nhanh nhẹn dẻo dai của nó. T'hoắt một cái, nó biến mất. Một nỗi xót xa khiến ông nhói lòng: số phận của bậc đế vương không trùng với số phận ông. Niềm vui nhen lên từ khi ở nhà ra đi trong ông vơi di một nửa. Khi con khỉ đần đàn biến mất thì ào ra một đàn khỉ dến hai chục con từ rất nhiều hướng. Con vắt vẻo trên cao, con đánh đu ngang cành. Có con lại nhảy xuống đất. Ông Diểu thấy ba con khỉ cứ quấn lấy nhau: con khỉ dực, con khỉ cái và đứa con nó. ý nghĩ con khỉ đực sẽ là con mồi bám lấy ông Diểu tức thì. Cái thằng bố ô trọc ấy! Đồ phong tình phóng đãng! Vị gia trưởng cộc cằn! Nhà lập pháp bẩn thỉu! Tên bạo chúa khốn nạn! ông Diểu thấy nóng bừng người. Ông bỏ mũ và áo bông ra dặt dưới lùm cây. Ông để cả nắm cơm xuống đất. Ông từ từ dịch chuyển sang chỗ đất trũng thấp hơn. Ông nhìn kỹ và thấy con khỉ canh gác là con khỉ cái. Thế là thuận lợi rồi. Bởi giống cái bao giờ cũng dễ phân tâm. Đấy, thấy chưa? Đang canh gác mà đi bắt rận ở người thì còn gì nữa? Với giống cái thì thân thể mình là quan trọng nhất. Điều ấy thật giản dị và đẹp. Nhưng điều ấy lại đầy xót xa...

Ông Diểu tính toán rồi luồn theo hướng ngược gió với con khỉ cái canh gác. Phải tiếp cận đàn khỉ đến hai chục mét thì mới bắn được. Ông bò nhanh và rất khéo léo. Xác định được con mồi rồi là ông chắc chắn thành công. Thiên nhiên đã. dành cho ông chứ không ai khác chính con khỉ ấy. Thậm chí ông biết dù ông có đi mạnh chân một chút, gây nên một sự bất cẩn nhố nhăng nào đó cũng chẳng hề gì Điều ấy tưởng như phi lý mà thật bình thường. Tuy nghĩ vậy nhưng mà ông Diểu vẫn cứ tiếp cận đàn khỉ một cách thận trọng. Ông biết thiên nhiên đầy rẫy bất ngờ. Thận trọng chẳng bao giờ thừa. Ông Diểu tỳ súng vào một chạc cây. Cái bộ ba trong gia đình khỉ không hề biết rằng tai họa đến gần. Con khỉ bố vắt vẻo trên cây bứt quả ném xuống dưới đất cho hai mẹ con. Trước khi ném, bao. giờ nó cũng chọn quả ngon chén trước. Hành động ấy thật là đê tiện. Ông Diểu bóp cò. Tiếng súng dữ dội đến nỗi đàn khỉ lặng đi dễ đến một phút. Con khỉ đực buông tay ngã nhào xuống đất nặng nề. Sự hỗn loạn của cả đàn khỉ khiến cho ông Diểu sợ hãi run lên. Ông vừa làm điều ác. Chân tay ông rủn ra, giống cảm giác như người vừa mới làm xong việc nặng. Đàn khỉ thoắt biến vào rừng. Con khỉ mẹ và con khỉ con cũng chạy theo đàn. Được một đoạn, con khỉ mẹ bỗng quay trở lại. Con khỉ đực bị đạn vào vai, nó gượng dậy, nhưng lại vật xuống.

Con khỉ cái tiến đến gần con khỉ đực một cách thận trọng, nó nhìn ngó xung quanh. Sự im lặng này thật đáng ngờ. Nhưng rồi con khỉ đực cất tiếng gọi nó, tiếng gọi buồn thảm đau đớn. Nó dừng lại lắng nghe với vẻ khiếp sợ hoảng loạn.

- Chạy đi!

Ông Diểu rên lên khe khẽ. Nhưng con khỉ cái tuồng như muốn liều thí mạng, nó đến gần nâng con khỉ đực nhỏm lên.

Ông Diểu tức giận giương súng. Hành động hy sinh thân mình của con khỉ cái làm ông căm ghét.

Đồ gian dối, mày chứng minh tấm lòng cao thượng hệt như một bà trưởng giả! Sự tan rã đạo đức bắt đầu từ những tấn kịch thế này, lừa ông sao được? Khi ông Diểu chuẩn bị bóp cò thì con khỉ cái quay lại nhìn ông. Đôi mắt nó sợ hãi kinh hoàng. Nó vứt phịch con khỉ đực xuống đất rồi chạy biến đi ông Diểu thở phào rồi khẽ bật cười. Ông nhô hẳn người ra khỏi chỗ nấp.

- Sai lầm rồi!

Ông Diểu rủa thầm vì ông vừa bước ra thì con khỉ cái quay lại tức thì. "Nó biết mình là người thì thôi hỏng việc! " Y như rằng, con khỉ cái vừa lén nhìn ông vừa lao đến chỗ con khỉ đực. Nó ghì lấy con khỉ đực vào lòng rất nhanh và khéo. Cả hai lăn tròn trên đất. Bây giờ thì con khỉ cái chắc chắn sẽ điên cuồng như một mụ ngốc. Nó sẽ cuồng nhiệt hy sinh bởi lòng cao thượng của nó sẽ được thiên nhiên tính điểm. Ông đã lộ mặt là tên ám sát! Dù chết nó vẫn nhe răng để cười. Bất luận thế nào ông cũng sẽ đau đớn, sẽ thao thức, thậm chí ông sẽ chết sớm hai năm nếu ông bắn nó lúc này. Tất cả chỉ vì ra khỏi chỗ nấp sớm mất hai phút.

- Thôi Diểu ơi... - ông buồn bã nghĩ, - với đôi chân thấp khớp thế này thì làm sao mày chạy nhanh bằng lòng tận tụy, thủy chung của khỉ? Như trêu ngươi, hai con khỉ vừa chạy vừa dìu lấy nhau, con khỉ cái thỉnh thoảng lại huơ huơ đôi chân vòng kiềng trông vừa tức cười lại vừa đểu cáng. Ông Diểu bực mình lấy đà ném mạnh khẩu súng văng về phía trước. Ông mong muốn con vật hoảng sợ buông mồi.

Từ mô đá, bỗng nhiên con khỉ con xuất hiện. Nó túm lấy dây súng của ông kéo lê trên đất. Ba con khỉ vừa bò vừa chạy cuống cuồng. ôn g Diểu ngớ ra một lát rồi phá lên cười: tình thế của ông thật là lố bịch!

Nhặt đất đá ném theo lũ khỉ, ông Diểu vừa đuổi vừa la. Lũ khỉ hết sức kinh hoàng, hai con chạy về phía núi, còn con khỉ nhỏ chạy về phía vực. “Mất súng thì hỏng". Ông Diểu nghĩ thế và đuổi theo con khỉ nhỏ. Khoảng cách rút ngắn đến mức nếu không vì mắc nền đá lởm chởm, ông lao nhoài ra là tóm ngay được khẩu súng.

Việc ông Diểu dồn con khỉ nhỏ đến bờ miệng vực đưa đến hậu quả khôn lường. Giữ chặt dây súng, nó lăn xuống miệng vực không chút chần chừ. Vì ít kinh nghiệm, nó không tìm ra giải pháp nào khác trong trường hợp ấy.

Ông Diểu tái mặt, mồ hôi toát ra như tắm. Ông đứng trên miệng vực nhìn xuống rùng mình. Từ dưới sâu hun hút vang lên tiếng rú thê thảm của con khỉ nhỏ. Trong ký ức của ông chưa hề có tiếng rú nào tương tự thế này. Ông Diểu lùi lại kinh hoàng. Từ dưới miệng vực, sương mù dâng lên cuồn cuộn, trông vừa kinh dị, vừa đầy tử khí. Sương mù len vào từng chân bụi cây và xóa rất nhanh cảnh vật. Ông Diểu chạy lùi trở lại. Phải lâu lắm, có lẽ từ thời thơ ấu, ông Diểu mới lại có lần chạy như ma đuổi thế này.

Đến chân núi đá, ông Diểu kiệt sức. Ông ngồi phệt xuống nhìn về phía vực. Bây giờ sương mù đã trùm kín nó. Ông sực nhớ ra đây là khu vực đáng sợ nhất trong thung lũng, khu vực mà cánh thợ săn đặt tên cho là Hõm Chết. ở hõm sâu này, gần như đều đặn, năm nào cũng có người bị sương mù giăng bẫy làm cho toi mạng. “Hay là ma? - ông Diểu nghĩ. - Cô hồn của những bà cô ông mãnh thường biến thành hình kìlỉ trăng?" Con khỉ này màu trắng. Nó đoạt súng của ông bất thường đến nỗi ông cũng ngờ vực là sao sự thực có thể giản đơn như vậy? - "Ta có mê không? - ông Diểu nhìn quanh. - Tất cả như trong mộng mị?" - ông đứng dậy nhìn lên vách núi bàng hoàng. Phía núi đá ngược chiều Hõm Chết, bầu trời quang đãng không hề vướng gơn sương mù, tất cả cảnh vật lộ rõ từng đường nét.

Có tiếng kêu thảng thốt. Ông Diểu trông lên thì bỗng thấy con khỉ đực bị thương nằm vắt ở trên mỏm đá. Không thấy con khỉ cái. Ông mừng quá tìm hướng leo lên. Núi đá dốc và trơn. Leo lên nguy hiểm và vất vả lắm. Ông Diểu lượng sức: "Nhưng dù thế nào thì ta cũng phải tóm được chú mày"! Ông Diểu bình tĩnh bám vào các khe đá nứt leo lên. Được khoảng chục mét, ông Diểu thấy nóng bừng người. Lựa chỗ đứng thuận tiện, ông cởi bỏ giày và quần áo ngoài để lên một chạc cây duối. Trên mình mỗi chiếc quần lót, ông thấy thoải mái. Ông leo thoăn thoắt và càng không ngờ sức mình có thể nhanh nhẹn dẻo dai đến thế. Con khỉ đực bị thương nằm trên ngọn đá phẳng lì và khá chông chênh. Dưới phiến đá, một khe nứt rộng đến gang tay tách nó ra khỏi vách núi. Ông Diểu rùng mình, cảm tưởng như bất cứ lúc nào tảng đá cũng có thể lăvl nhào khỏi vị trí ấy làm ông kinh hãi. Thiên nhiên oái oăm lại muốn thử thách thêm lòng dũng cảm của ông sao đó. Ông Diểu lấy hai cùi tay làm tựa để co người lên. Con khỉ tuyệt đẹp, lông mịn và vàng. Nó nằm sấp mình, hai tay cào trên phiến đá như muốn tìm cách nhích lên. Máu đỏ bết bên vai nó. Ông Diểu đặt tay lên mình con khỉ và thấy nó nóng hầm hập. "Dễ đến hơn yến... " ông Diểu luồn tay xuống dưới ngực con khỉ nâng lên ước lượng.

Từ trong ngực nó phát ra tiếng "hừm" nho nhỏ nghe rất đáng sợ, tựa như thần Chết bực mình cáu kỉnh vì sự can thiệp của ông với nó. Ông Diêu rút phắt tay lại. Con khỉ run bắn, nó đưa đôi mắt đờ dại nhìn ông cầu khẩn. Ông Diểu bỗng thấy thương hại. Viên đạn phá vỡ bả vai của nó, làm trồi ra hẳn đoạn xương dài đến bốn phân. Mối khi đoạn xương va chạm, con khỉ quằn quại trông rất đau lòng.

- "Để thế không ổn! " - ông Diểu vơ lấy một nắm cỏ Lào vò nát~ ông cho vào miệng nhai kỹ. Ông đắp nắm lá vào miệng vết thương con khỉ. Nắm lá sẽ có tác dụng cầm máu cho nó. Con khỉ co rúm người lại và nghiêng đôi mắt ươn ướt nhìn ông. Ông Diểu tránh nhìn vào đôi mắt nó. Một lát, con khỉ rúc hẳn vào hai lòng tay ông Diểu. Miệng nó phát ra âm thanh lắp bàp nghe như tiếng của trẻ con. Ông biết nó đang van xin và tìm một sự giúp rập. Ông rất khó chịu. "Thà mày chống cự thì tốt cho tao, - ông Diểu nhìn vào cái đầu ngoan ngoãn của con khỉ nhỏ cau mày. - Mình đâm già rồi... Nó biết người già thì dễ mủi lòng. Bây giờ tao biết lấy gì băng bó cho mày hở khỉ?" Ông Diểu suy nghĩ. Ông đành cởi chiếc quần lót đang mặc. Ông dùng chiếc quần lót ấy để băng vết thương cho nó. Vết thương cầm máu, con khỉ không còn rên nữa.

Cứ thế trần truồng, ông Diểu vừa bế vừa đỡ con khỉ tìm đường tụt xuống chân núi. Thoắt nhiên, đất đá từ lưng chừng núi sụt xuống rào rào như có sức mạnh nào đấy xô đẩy.

Núi lở!

Ông Diểu thót mình và bám thật chặt vào tảng đá kinh hãi. Đoạn đường mà ông leo lên lúc nãy loáng cái chỉ còn một vết chém thẳng phẳng lì. Ông Diểu không còn thấy cây duối để quần và giày đâu nữa. Đi xuống đường ấy bây giờ thật nguy hiểm. Đành phải vòng ra sau núi. Xa hơn nhưng lại an toàn.

Ông Diểu lần mò đến hơn hai tiếng đồng hồ mới xuống được đến chân núi. Thật chưa bao giờ ông lại vất vả và mệt đến thế. Người ông đầy vết xây xát. Con khỉ sống không ra sống, chết không ra chết. Kéo nó trên đất thì quá đau lòng, mà bế ẵm nó trên tay thì không đủ sức. Đến chỗ lùm cây leo nấp chờ ban sáng, ông Diểu dừng lại để tìm mũ áo và nắm xôi nếp. ở đáy đùn lên một đống mối to gần bằng cây rạ. Đống mối nhớp nháp một thứ đất mới đỏ au, trên đấy đầy những cánh mối ướt rụi. Khốn nạn, dây vào tổ mối thì những đồ vật của ông thành cám! Thở dài thất vọng, ông Diểu quay lại bế con khỉ lên.

"Chẳng lẽ lại cứ nồng nỗng thế này về nhà thì thật khả ố - ông Diểu bực mình. - Mình sẽ thành một trò cười cho thiên hạ mất... " ông cứ vừa đi vừa nghĩ và đâm loanh quanh một lúc mới nhận ra con đường. "Thì đã sao nào - ông bỗng bật cười. - Hỏi ai bắn được con khỉ thế này? Phải yến rưỡi thịt... Lông vàng như nhuộm... Bắn được con vật như thế này thì dẫu mảnh giáp không còn cũng đáng! Có tiếng động khẽ đằng sau. Ông Diểu giật mình quay lại và nhận ra con khỉ cái. Thấy ông, nó thoắt biến vào bụi rậm. Hóa ra con khỉ cái theo ông từ khi ông ở trên núi mà ông không biết. Ông thấy là lạ. Đi được một quãng, ông Diểu quay lại thì vẫn thấy nó lẽo đẽo đằng sau. Thật khốn nạn quá! ông Diểu đặt con khỉ đực xuống đất rồi nhặt đất đá đuổi con khỉ cái. Nó kêu the thé rồi chạy biến đi. Chỉ được một lúc, ông Diểu ngó lại thì vẫn thấy nó lẵn g nhẵng bám theo. Cái bộ ba ấy cứ thế lầm lũi xuyên rừng. Con khỉ cái cũng thật kiên trì. Ông Diêu bỗng thấy bị xúc phạm ghê gớm. Tựa như ông bị theo dõi, bị đòi ăn vạ.

Bây giờ, cả con khỉ đực cũng đã nhận ra tín hiệu vẫy gọi của đồng loại nó. Nó cứ giãy giụa, nó làm cho ông khổ vô cùng. Ông Diểu mệt lả, ông không còn sức giữ con khỉ nữa. Hai tay con khỉ cào trên ngực ông tóe máu. Cuối cùng, không thể chịu nổi, ông đành tức giận ném nó xuống đất. Con khỉ đực nằm dài trên vạt cỏ ướt. Ông Diểu buồn bã ngồi nhìn. Cách đó không xa, con khỉ cái cũng thập thò sau một gốe cây theo dõi.

Ông Diểu thấy buồn tê tái đến tận đáy lòng. Ông nhìn cả hai con khỉ và thấy cay cay sống mũi. Hóa ra ở đời, trách nhiệm đè lên lưng mỗi sinh vật quả thật nặng nề. "Thôi tao phóng sinh cho mày! " - Ông Diểu ngồi yên một lát rồi bỗng đứng dậy nhổ bãi nước bọt xuống dưới chân mình. Lưỡng lự giáy phút rồi ông vội vã bỏ đi. Hình như chỉ chờ có thế, con khỉ cái vọt ngay ra khỏi chỗ nấp, chạy vội đến chỗ con khỉ đực nằm.

Ông Diểu rẽ sang một lối đi khác. Ông muốn tránh sẽ gặp người. Lối này đầy những bụi gai ngáng đường nhưng hoa tử huyền nhiều không kể xiết. Ông Diểu dừng lại sững sờ. Loài hoa tử huyền cứ ba chục năm mới nở một lần. Người nào gặp hoa tử huyền sẽ gặp may màn. Hoa này mà u trắng, vị mặn, bé bằng đầu tăm, người ta vẫn gọi hoa này là muối của rừng. Khi rừng kết muối, đấy là điềm báo đất nước thanh bình, mùa màng phong túc.

Ra khỏi thung lũng, ông Diểu đi xuống cánh đồng. Mưa xuân dịu dàng nhưng rất mau hạt. Ông cứ trần truồng như thế, cô đơn như thế mà đi. Chỉ một lát sau, bóng ông nhòa vào màn mưa.

Chỉ ít ngày nữa sang tiế
t Lập hạ. Trời sẽ ấm dần

Huế đẹp, Huế thơ


Vài nét về Nam Trân Học trò trong Quảng ra thi... Nam Trân: Con người tài hoa Một số nhà văn tuổi Mùi Hà nội, Đẹp và Thơ Đường phố Đà Nẵng mang tên danh nhân: Nhà thơ Nam Trân  Người đương thời thơ mới bàn về thơ Nam Trân Nam Trân - sự gắn bó giữa không gian Huế và tâm hồn thi nhân Tìm lại Huế, Đẹp và Thơ - Giới thiệu tập thơ Nam Trân Nam Trân với Huế Hành xử và đóng góp của một trí thức yêu nước Diễn văn nhân kỷ niệm 100 năm sinh và 40 năm mất nhà thơ - dịch giả Nam Trân Người Quảng trên đất cố đô Đọc lại 'Huế, Đẹp và Thơ' của Nam Trân Kỷ niệm 100 năm ngày sinh cố nhà thơ - dịch giả Nam Trân Vài thổ âm, thổ ngữ của người Quảng "Người Xô Viết" với các nhà văn đất Quảng thời kháng chiến chống Pháp (1946-1954)

Đẹp và Thơ - Cô gái Kim Luông Anh chài tự đắc Bài hát của đại phi công Bài thơ nhất cú hay là nỗi khổ tâm của thi sĩ Bỏ quách lối thơ xưa Cánh cửa Cảnh quê Cầu bạn Chôn hoa Điếu thuốc cháy suông Đời người Eng Gặp khách đong đưa Giận khúc Nam ai Hà Nội, mưa phùn Hái hoa hồng Hồ Tịnh Tâm hay chuồn chuồn Huế, đêm hè Huế, mưa dầm Huế, ngày hè Khiêu vũ 1935 Khoá xuân Liên tưởng Một câu thơ của ông Tú Mỡ Mùa đông, cánh đồng An Cựu  Nắng thu Núi Ngự, sông Hương Ngại ngùng khi bước chân ra Sầm Sơn trường hận  Sóng bạc tình Sơn còn ướt Tiếng chuông Diệu Đế Trên núi Ngự Trước chùa Thiên Mụ Vườn cau Nam Phổ

Chuyện em Thanh (Nhặt được của rơi, trả người đánh mất) Mùa xuân trong vườn Em yêu mùa hè Sức mồ hôi Bàn tay mẹ Chớm thu Tựu trường

Những bài học về văn hóa và ngôn ngữ từ một lời cảm ơn của chủ tịch Hồ Chí Minh Nhật kí trong tù tròn bảy mươi năm (1943-2013) 70 năm Ngục trung nhật ký Kỷ niệm 70 năm "Ngục trung nhật ký": Sự trở lại của một kích thước lớn  “Nhật ký trong tù” – 70 năm sáng mãi tinh thần lạc quan của Bác 60 năm Ngày Bác Hồ viết bài cuối của tập thơ Nhật ký trong tù (10/9/1943 - 10/9/2003)  Nam Trân và bản dịch Nhật ký trong tù Sự bất hủ của Nhật ký trong tù Sức lan tỏa của một hồn thơ lớn Trở lại hành trình của nguyên tác  Ngục trung nhật ký  Nhật ký trong tù có 133 hay 134 bài ? Nhà xuất bản Văn học tiếp thu phê bình về việc tái bản Nhật ký trong tù Đọc lại bài thơ Khán “thiên gia thi” hữu cảm (Nhân 70 năm Nhật ký trong tù) Dịch thơ: nói dễ, làm khó! “Nhật ký trong tù và lời bình” hay trò đùa của nhà phê bình Lê Xuân Đức? – Kỳ 1: Tan một nguyên tác thơ Hồ Chí Minh “Nhật ký trong tù và lời bình” hay trò đùa của nhà phê bình Lê Xuân Đức? – Kỳ 2: Đạo văn để bình văn “Nhật ký trong tù và lời bình” hay trò đùa của nhà phê bình Lê Xuân Đức? – Kỳ 3: Không có chữ dạy người biết chữ “Nhật ký trong tù và lời bình” hay trò đùa của nhà phê bình Lê Xuân Đức? – Kỳ 4: Đạo đồ giả và sáng tạo nhầm Trở lại "số phận" Nhật ký trong tù Ra mắt tác phẩm “Nhật ký trong tù” của Hồ Chủ tịch ở Cộng hòa Czech Vu cáo chính trị – mập mờ học thuật

Phát huy vai trò nhân sĩ trí thức trong sự nghiệp đại đoàn kết toàn dân tộc Hội Nhà văn Việt Nam đẩy mạnh các hoạt động lý luận, phê bình văn học Văn học kháng chiến chống Pháp ở Bình Thuận 60 năm Viện văn học và tạp chí nghiên cứu văn học

Năm mới nhớ về một thời gian khó  Bao cấp

Ra mắt hai cuốn Sưu tập Phan Khôi: Tác phẩm đăng báo 1933-1934 và Tác phẩm đăng báo 1935 Chế Lan Viên Tấm chân tình đằng sau những tiếng cười Nữ sĩ Anh Thơ: Đa tài, đa tình, nhưng cũng đa đoan

Qua đèo Ngang Hai sắc hoa ti gôn Người vợ (Nguyễn Khải)

Một người Hà Nội- Nguyễn Khải Đi tìm cái tôi đã mất (Nguyễn Khải) Dại khôn Nguyễn Khải Hồi kí của Nguyễn Đăng Mạnh về Nguyễn Khải Muối của rừng (Nguyễn Huy Thiệp) Tuổi 50 Làm sao cho người Việt tin nhau?

Thứ Tư, 10 tháng 7, 2013

Về Huế đọc thơ anh Tạo



Về Huế đọc thơ anh Tạo

Bùi Văn Kha

Khi anh Bằng Việt cử tôi vào nhóm đi Huế công tác, tôi buộc lòng tôi vào một ấp ủ từ lâu: Nguyễn Trọng Tạo!
Trên chuyến xe từ Hà Nội vô Huế cứ đầm ấm một Thanh Hoa với Làng quan họ quê tôi – “những năm bom Mỹ thả, loan phượng vẫn ăn xoài”, một Anh Thơ thiết tha Khúc hát sông quê – “sông còn nhớ chăng nơi ta ngồi ngóng mẹ, vời vợi tuổi thơ một xu bánh đa vừng”.
Hay quá là hay nhưng nhạc dẫu anh mà thơ Nguyễn Phan Hách – Lê Huy Mậu.
Tự nhủ năm 1995 được nghe một bài hát về dòng sông riêng Huế (của anh cả nhạc và thơ) do Thanh Hoa hát: “Sông Hương ơi sông Hương, sông trôi qua thời gian – người đặt tên sông cho người soi bóng” cảm vi vút Núi Ngự gợn nhịp sông Hương động cảnh động lòng. Chợt nhìn ra đã qua Quảng Trị. Và Huế đây rồi. Huế của thơ anh Tạo đây rồi.
Anh Phạm Xuân Nguyên cùng đi bảo sao lại phải về Huế mới thế. Thơ anh Tạo đọc ở đâu chả hay. Nhưng trong tôi vẫn bảo thủ rằng trên con đường Nam tiến Huế là điểm dừng chân của các Chúa Nguyễn xưa. Thơ ca nhạc họa hình như cũng vui lòng vậy. Cho nên, Nguyễn Trọng Tạo – người lính nghệ sỹ người xứ Nghệ “vượt Đèo Ngang tìm nơi cần” không phải chữ mà Thơ viết hoa – chính Huế.
Huế cơ mà. Huế đã có Nguyễn Du với Thu cảm, Cao Bá Quát với “Hương giang như thanh kiếm lập thanh thiên”; Phan Bội Châu “Vắng mặt sông Hương suốt mấy trăng/ đuổi xong ma bệnh rước tin mừng”; Văn Cao “Một đêm đàn lạnh trên sông Huế”; Nguyễn Bính “ở Ngự Viên mà nhớ Ngự Viên” và “có về Chiêm quốc như Huyền Trân” để “lăng lắc đường xa nhớ cố nhân”…
Nhắc như thế để nói rằng muốn có được tập thơ Đồng dao cho người lớn, trọn Thập kỷ 80 sang 90, anh Tạo phải Huế đã. Cái anh cần là một chút vốn văn chương trên vai, một bóng tím trong lòng anh riêng Huế. Nhà thơ của chúng ta gặp xứ mộng mơ bằng Con đường của những vì sao.
Trường ca Đồng Lộc hay Con đường của những vì sao viết năm 1978: “Tuổi trẻ của tôi/ mười tám, đôi mươi/ trong và tinh khiết như nước suối đá/ Khỏe và mơn mởn như mầm lá/ rộng và dài như mơ ước yêu thương/ vươn lên và bền vững như con đường/ gắn vào đất, tạc vào mặt đất” – “Cô gái áo nâu vai tròn gió thổi/ Ngực căng đầy hồi hộp ánh trăng/ tóc chàng trai dính chút bùn non/ sau buổi cày bừa đồng chiêm vội vã” – “Trên thảm cỏ xanh trăng trải lụa vàng/ họ ngồi xuống như không về nhà nữa/ họ ngồi xuống như quên sương gió/ – ngày mai/ ngày mai mỗi người mỗi ngả/ đi vào cuộc chiến tranh!”.
Đoạn đặc tả này cho ta thấy người Việt ta an bình trong lãng mạn sử thi. Họ có nhà đấy. Họ nhập cuộc từ phía huyền cảm. Họ đẹp.
Trên đường thiên lý Bắc Nam, Đồng Lộc, như bài phú của Vũ Khiêu trong Đài Tưởng niệm 10 cô thanh niên xung phong trụ đường huyết mạch thông xe ngày đêm tiếp tế cho tiền tuyến. Trong trường ca Nguyễn Trọng Tạo, hiện thực được khắc họa: “Ấy là năm/ cả dân tộc mình mặc áo cỏ xanh/ mặc tự nguyện, mặc không lựa chọn/ những lứa đôi ở hai đầu tiếng súng/chỉ mình hiểu lòng mình ngày tháng đợi chờ nhau”.
Ta hãy theo dõi một nhân vật văn học: “La rùng mình cắn vai Mùa đau nhói/ nước mắt vui hay nước mắt buồn/ ôi có những điều mong ước giản đơn/ nói ra thành yêu thương/ nói ra thành sợ hãi” – họ là người bình thường. “rất có thể một người không trở lại/ máu chan hòa mặt đất quê hương/ máu chan hòa dưới thảm cỏ xanh non/ tốt tươi đất đai, tốt tươi Tổ quốc/ sống hết lòng mình, chết đời cao đẹp/ những con người như thế, mãi gần nhau!”
Và một địa điểm cụ thể: “La đến đây/ nơi ngã ba trụi trần đất đỏ/ ngã ba nắng, ngã ba gió/ ngã ba đất, ngã ba trời/ ngã ba xe, ngã ba người/ ngã ba bom đạn/ cây muỗm chạc ba ngã xuống/ nhập vào ngã ba tro than/ gốc bám phía nam/ cành vươn phía bắc/ lá nhập vào màu áo đoàn quân/ dưới ánh sáng mặt trời/ ánh sáng trái tim người/ cuộc quang hợp màu xanh…”
Chất liệu sử thi nhuần với giọng điệu anh hùng ca nói về những con người tưởng chừng nhỏ bé không được đào tạo theo một khuôn ước thi đua nào, nhưng cái khí chất Phù Đổng của sự hi sinh cao cả ấy khiến loài người kính phục.
Cũng là muốn nói trước việc Nguyễn Trọng Tạo lúc này cảm hứng và thi pháp chủ đạo vẫn là truyền thống cách mạng – chủ nghĩa anh hùng tập thể – trách nhiệm cái chung.
Khoảng đầu những năm 1980, từ Đồng Lộc theo Con đường của những vì sao nhà thơ người lính còn trẻ vào Huế với một hành trang Nghệ Tĩnh – Nghệ sĩ nhập vào hồn cốt Huế hòa vào em người con gái Huế mà dựng lâu đài văn chương.
Xứ Huế cổ xưa thật xưa của Nam Trân, Hàn Mặc Tử, Tố Hữu, Bùi Giáng qua Trịnh Công Sơn, Hoàng Phủ Ngọc Tường, Nguyễn Khoa Điềm, Hà Khánh Linh, Lâm Thị Mỹ Dạ,… một hồi “con sông dùng dằng con sông không chảy” – Thu Bồn, rồi gửi mình vào Điềm Phùng Thị, Lê Bá Đảng nơi họa, An Thuyên, Trương Tuyết Mai nơi nhạc và…
Và Nguyễn Trọng Tạo nơi thơ.
Đúng là ở Huế tâm hồn nghệ sĩ Nguyễn Trọng Tạo gặp cái “Đẹp và Thơ” của “…núi Ngự bên bờ sông Hương” mà thành “Sông Hương hóa rượu ta đến uống/ Ta tỉnh. Đền đài ngả nghiêng say”. Mặc kệ có người nói đã có ý này từ trước. Nhưng Lưu Trọng Lư với Tiếng Thu vẫn chỉ có thể là kiệt tác Việt Nam. Lấy cái tinh túy nhất của ẩm thực mượn sông Hương mà nói cái đam mê của người nghệ sĩ câu trên, chuyển thành hai trạng thái: Ta tỉnh – là sự khác biệt của tửu đồ Tản Đà, Nguyễn Vỹ, xa hơn là Nguyễn Khuyến, xa nữa Lưu Linh. Nhưng đền đài ngả nghiêng say. Tách đền đài là thi liệu, ngả nghiêng say là tính linh – cả câu là vật linh giáo rồi. Thì ra có hai câu thơ mà cả một khởi thủy bái vật tô tem, sâu chưa!
Cách xử lý thiên nhiên này là gợi mới cho một quan niệm thơ: Gọn, nhập cuộc quyết liệt, suy tư trách nhiệm. “có cả đất trời mà không nhà ở/ có vui nho nhỏ có buồn mênh mông/ mà thuyền vẫn sông mà xanh vẫn cỏ/ mà đời vẫn say mà hồn vẫn gió/ có thương có nhớ có khóc có cười/ có cái chớp mắt đã nghìn năm trôi” (Đồng dao cho người lớn).
Hình ảnh và ý niệm quyện nhau tạo nên câu thơ hình tượng. Từ những nhận xét về cánh rừng chết con người sống, câu hỏi câu trả lời, ông trăng tròn đặt phản đề chính đề trong cùng một câu thơ,… nhà thơ nói về một số phận chung cho kiếp thi nhân lãng tử – vận vận vào thân mình. Anh viết tưởng cho người mà lại chính niệm huệ định lực riêng anh. Đây là những phản tư đi trước của những “khúc ca trẻ con vấn đề người lớn” – bình minh nào mà chẳng ban đầu hé nụ. Nếu nhìn nhận lại từ thuần khiết ấu thơ sẽ giảm phức tạp cho nhau.
Chừng mực vây kín. Muốn mới nhưng xung quang loạn chuẩn.
Mà tạo dụng kiểu gì cũng phải từ lòng tin: “nhưng tôi người cầm bút than ôi/ không thể không tin gì mà viết/ tin thì tin không tin thì thôi!” – (Tin thì tin không tin thì thôi).
Phân vân như cánh cò Xuân Diệu:
“còn Rốck Rap hay còn đêm cổ điển/ điên cuồng ơi mơ mộng bỏ tôi rồi” – (Đêm cổ điển).
Quá đủ hiện thực người nên tìm về một góc Liêu Trai:
“Đêm cộng cảm:…múa hát với ma đêm nay ăn uống với ma đêm nay ngủ với ma đêm nay/ ngày mai vĩnh viễn chia tay/ nhà ta đã làm cho ma trâu ta đã giết cho ma ngày mai gạo ta sẽ rắc, ngày mai gà con ta sẽ thả/ ngày mai chỉ còn bên ma những tượng mồ/ đêm ái ân lần cuối/ đêm cộng cảm sáo đàn cồng chiêng trống cái/ lục lạc rung dây chuỗi tiếng hú dài”.
Thế mà có được đâu.
“Cầm lòng sao cứ vân vi/ mây thì nặng trĩu núi thì nhẹ tênh” – (Cầm lòng)
Bài Thời Gian 2: “từng giọt thời gian ngưng thành mai vàng/ tích tắc nhịp tim sao ta bàng hoàng/ôi xuân đã sang mà người chẳng tới/ từng hạt thời gian gieo vàng mong đợi/ mùa xuân mời cưới lấy ai đi cùng/ ta đi một mình thời gian mông lung/ nay còn trẻ trung mai đà tóc bạc/ từng giọt thời gian ứa tràn khóe mắt/ thôi người đừng khóc rụng rơi bông vàng/ buồn vui làm ngọc kết thành thời gian…” vẫn một tự sự buồn nhưng có hậu.
Bài Có Khi: “có khi nắng chết trong màu lá/ mẹ nhặt về nhen ngọn lửa chiều/ có khi mưa chết trong đất khát/ em gặp mùa hoa tặng người yêu/có khi bài hát xa xưa quá/ bỗng đến bất ngờ an ủi ta/ và em thuở ấy đi biệt xứ/ sao lại về đây lấp lánh. Và/ mưa trắng đường mưa nắng ngất ngư/ ai đem lụa trải tận xa mờ/ có khi người chết nghìn năm trước/ hồn vẫn bồng bềnh trong giấc mơ.” Bài này viết bên mộ Hàn Mạc Tử nay vào trong xưa, xưa mực thước nay dìu nhau mà buồn.
Bài Lưu Lạc: “Lạc vào kinh kệ/ u mê chiều tà/lạc vào quyền chức/ kiếp nào gỡ ra/ con đường thì xa/ chỉ tay mạng nhện/ ta lạc ngoài ta/ đi hoài không đến/ một băng nhạc sến/ ướt chùng chiều mưa/có một gã thừa/ lạc vào nhăng nhố/ ngác ngơ giữa phố/ một thằng nhà quê/ nhớ thương mộ Tổ/ biết bao giờ về…” nhịp điệu gọn gàng như một bài Rap tự tin thương cảm.
Bài Son nê buồn: “Xin gọi tên em là buồn/ Buồn ơi buồn hỡi ngọn nguồn Buồn đâu/ Buồn mồ côi đã từ lâu/ đời ta rồi cũng bạc đầu vì thương/ là khi tỉnh giấc trong đêm/ một mình ta thấy ngồi bên: Nỗi Buồn/ là khi cạn một ly tràn/đáy ly ta lại thấy làn mi xanh/ mi xanh Buồn cứ long lanh/ gặp long lanh thấy mong manh là buồn/ buồn đừng đi! Buồn đừng tan!/ mất Buồn còn lại tro tàn mà thôi/ Buồn ơi Buồn có thương tôi/ đừng làm tôi phải mồ côi Nỗi Buồn!…” đúng là người mẹ. Sau Tản Đà tiền chiến phải đến Nguyễn Trọng Tạo nỗi buồn mới trọn vẹn trong sinh nở của ngọn nguồn sáng tạo.
Bài Chia: “chia cho em một đời tôi/ một cay đắng một niềm vui một buồn/ tôi còn cái xác không hồn/ cái chai không rượu tôi còn vỏ chai/ chia cho em một đời say/ một cây si với một cây bồ đề/ tôi còn đâu nữa đam mê/ trời chang chang nắng tôi về héo khô/ chia cho em một đời thơ/ một lênh đênh một dại khờ một tôi/ chỉ còn cỏ mọc bên trời/ một bông hoa nhỏ lặng rơi mưa dầm” thực ra khinh bạc mà khiêm cung.
Giá trị thơ lục bát của Nguyễn Trọng Tạo chính là ở sự chân thành của cảm xúc. Anh đi đến tột cùng của cảm hứng trước cảnh, trước tình. Giai đoạn này đất nước đang chuyển mình Đổi mới. Trách nhiệm của người nghệ sĩ chân chính là phải lao vào thế sự, làm tròn tư cách công dân và hơn thế nữa. Đây là Thời kỳ nói thẳng, nói thật. Nhưng nói ở giác độ nào mới quan trọng. Nguyễn Trọng Tạo đứng ở vị trí văn chương mà chia sẻ, cộng cảm kể cả cái còn và cái mất. cái được và cái không trong khoảng mười năm.
Đặc điểm của thơ Nguyễn Trọng Tạo lúc này là Trữ tình, Thế sự. Anh sáng tác theo bút pháp chủ nghĩa hiện đại nghiêng về cách tân nhưng duy mỹ truyền thống. Đấy là nét sang trọng nhưng thức thời mà lại nhiều cuốn hút trong thơ anh. Tự tin mà nói rằng anh là một trong những đại biểu xuất sắc của thơ Việt Nam cuối thế kỷ 20.
Bởi vì: “Khi tình cảm của ta bị xúc động, thì lời nói xuất hiện; Khi cái lẽ đương nhiên đã phát hiện được thì văn hiện ra. Đó là cái việc từ chỗ ẩn (tình cảm, lí là hai cái kín) đi ra đến chỗ sáng rõ (ngôn ngữ, văn), nhờ bên trong mà phù hợp với bên ngoài vậy. Nhưng tài năng mỗi người mỗi khác: Có người tầm thường, có người ưu tú. Khí lực có người cứng rắn, có kẻ mềm yếu. Sức học có người nông cạn, có kẻ sâu xa. Lối sống có người trang nhã, có kẻ dâm dật (Trịnh, Trịnh là nước có phong tục dâm dật). Người ta do chỗ tình cảm và bản tính đào luyện, do sự giáo dục và ảnh hưởng bên ngoài (nhiễm là nhuộm) tích lũy lại mà lời văn và sáng tác mỗi người mỗi khác. Cho nên lời văn và lí lẽ tầm thường hay ưu tú, không ai có thể đổi cái tài của mình” – (Lưu Hiệp – Văn Tâm Điêu Long, bản dịch của Phan Ngọc).
Cách nay gần 10 năm, tôi tâm đắc với bài “Những Nghệ nhân ở Huế” nói về Nguyễn Trọng Tạo, Nguyễn Khắc Phê, Nguyễn Khắc Thạch trần lưng cùng văn nghệ sĩ Bình Trị Thiên làm Sông Hương mà cùng người Huế giữ lại cái thực hư riêng Kinh đô Huế.
Lại xa hơn, khoảng 20 năm trước, anh Tạo ra Thủ đô có 2 việc: Làm việc với Hội Nhạc sĩ Việt Nam và nhà xuất bản Âm nhạc để xuất bản băng cát xét “Tình khúc bốn mùa” có Thanh Hoa hát, và đến báo Văn Nghệ bàn với nhà thơ Hữu Thỉnh ra một phụ san chuyên thơ. Năm 1995 băng “Tình khúc bốn mùa” phát hành thì gần mười năm sau báo Thơ ra mắt. Thời gian ấy anh đã ra Hà Nội định cư, làm thơ, làm nhạc, làm họa, làm báo và làm bơ vơ…
Ra Hà Nội, anh nổi tiếng lắm rồi: Nhạc sĩ (nhạc say) – Nhà thơ (thơ hay) – Họa sĩ (họa bay) như lời giới thiệu của anh Nguyễn Thụy Kha khi xuất bản băng “Tình khúc bốn mùa” và chỉ vậy thôi, ôi thời ở Huế.
Phải chăng ở đây không dung được cái thân “song Nghệ” – Trong anh Nghệ Tĩnh ngoan cường mà cô độc – Nghệ sĩ đa tài nhưng đa đoan. Anh đầy Hà Nội nhưng vẫn thiêu thiếu một cái gì, hình như một chút hào hoa trưởng giả sung vào lãng tử cập thời. Một chút “…dương cầm trong căn phòng nhỏ”; một chút “…lang thang hoài trên phố”; một chút – thôi…thôi…
Không, có lẽ cái lãng tử trong anh không chứa nổi cái ô cuộc sống công chức. Hay rời Huế anh vơi đi động lực thăng hoa. Với anh , Huế là một khẳng định.
Nhưng anh đã thêm một duyên nợ với Hà Nội rồi.
Ước gì có một cú hích từ “làn mi xanh” – Anh Tạo không phải “mồ côi Nỗi Buồn”…
Viết bên sông Hương, 6/2013